Tháng 03
14
Trang chủ >> Pháp bảo >>

Luận

Nhập Đại Thừa Luận

Cỡ chữ:
Đăng ngày 14 - 03 - 2015 - Lúc 03 : 00 : 00 (GMT+7)
Nếu có kẻ nghi nên nghe Pháp, nghe rồi giải thích, liền được khai ngộ. Được khai ngộ rồi, liền sanh tín tâm. Sanh tín tâm rồi, liền sanh hỷ lạc. Sanh hỷ lạc rồi, như thế tuần tự, hay nghe suy nghĩ cho đến đầy đủ được nhứt thiết chủng trí.

Nhập Đại Thừa Luận

 Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, quyển thứ 32, thuộc Luận tập bộ toàn. Thứ tự kinh văn số 1634.

Do Ngài Kiên Ý Bồ Tát (Sthiramati) tạo Đời Bắc Lương.

Ngài Tam Tạng Pháp Sư Đạo Thái dịch  từ chữ Phạn ra chữ Hán.

Sa Môn Thích Như Điển, Phương Trượng Chùa Viên Giác, Đức Quốc, dịch từ Hán văn sang Việt văn, tại Tu Viện Đa Bảo, Úc Đại Lợi, từ ngày 17 tháng 12 năm 2003  với sự trợ dịch của Tỳ Kheo Thích Đồng Văn & Tỳ Kheo Thích Hạnh Giới.

Quyển Thượng

Phẩm thứ nhất: Nhập Đại Thừa Luận

Nay muốn vào sâu ý nghĩa của Đại Thừa nên

Hỏi rằng:

- Vì sao nói là ý nghĩa Nhập Đại Thừa?

Đáp rằng:

- Ta vì chúng sanh muốn rõ nhân duyên của sự Khổ. Cho nên các ông nên biết rằng: "Nếu có người gần gũi ác tri thức; Vì việc ác mà lầm tưởng biên chấp vào Pháp, rồi hay chấp trước vào tà kiến, điên đảo tư duy, chẳng hiểu rõ thật nghĩa, chẳng thuận theo trí của Phật, phỉ báng những lời nói của Thánh Nhân. Kẻ phỉ báng lời nói của Thánh Nhân đó, tức làm băng hoại Chánh Pháp. Kẻ  làm cho Chánh Pháp băng hoại, thì sẽ bị tội báo lớn như đức Thế Tôn thường dạy: "Tội phỉ báng rất nặng như ngũ nghịch, rơi vào trong ác đạo tối tăm, luôn luôn thọ khổ báo, như bài kệ sau đây:

Phỉ báng Pháp Đại Thừa

Nhứt định đọa ác xứ

Người ấy nhận Nghiệp Báo

Bậc Trí nói như vậy.         

Đọa vào trong Địa Ngục

Lửa dữ thiêu thân ấy

Đốt cháy thật đau đớn

Bởi Nghiệp Báo sanh ra.

Lửa thiêu, Cày Sắt lớn

Cho đủ năm trăm lần

Cày lên trên lưỡi ấy

Thân đau đớn vô cùng

Như ra khỏi địa ngục

Lại nhận Ác báo khác              

Các căn thường thô xấu

Chẳng thể nghe Pháp Âm

Nếu có kẻ được nghe

Sanh ra bị phỉ báng

Do nhân duyên phỉ báng

Phải đọa vào địa ngục

Chúng sanh khi nghe Pháp mà phỉ báng và nói như vậy, ở nơi Đại Thừa liền sanh tâm nghi. Như Tôn Giả Đề Bà nói kệ như sau:

Người ấy phước mỏng

Chẳng sanh nơi Nghi

Kẻ hay sanh Nghi

Tất phá hết thảy

Nếu có kẻ nghi nên nghe Pháp, nghe rồi giải thích, liền được khai ngộ. Được khai ngộ rồi, liền sanh tín tâm. Sanh tín tâm rồi, liền sanh hỷ lạc. Sanh hỷ lạc rồi, như thế tuần tự, hay nghe suy nghĩ cho đến đầy đủ được nhứt thiết chủng trí. Do nhân hủy báng Đại Thừa nên bị đọa vào ác đạo. Lại cũng do từ Đại Thừa mà khởi lên các Thiện nghiệp. Như người từ đất mà trở lại. Nương nơi đất mà trổi dậy. Lại nữa do người có trí, liền đến Bồ Đề. Nếu có chúng sanh cùng được như thế. Nếu lìa chúng sanh, tức chẳng đến được con đường Bồ Đề. Từ thế giới của chúng sanh mà sanh ra tất cả chư Phật và giác ngộ như Tôn Giả Long Thọ nói kệ sau đây:

Chẳng từ hư không có

Lại chẳng từ đất sanh

Thường ở nơi phiền não

Bồ Đề - chứng đắc thành

  Hỏi rằng:

- Ông nói muốn vào Pháp Đại Thừa, phải có công đức như thế nào để có tên là Đại Thừa?

Đáp:

- Nơi Bồ Tát Tạng có tên là Đại Thừa

Hỏi rằng:

- Phật chẳng nói tam thừa, cũng chẳng nói Đại Thừa mà?

Đáp rằng:

- Như thế đó. Ở trong Đại Thừa lại nói Tam Thừa, tức có tên là Tam Tạng. Như trong tạng kinh Bồ Tát, Phật bảo Vua A Xà Thế:

- Con cái trong tộc gồm có ba loại. Thế nào gọi là ba? Đó là:

  •     Thanh Văn tạng,
  •     Bích Chi Phật tạng,
  •     Bồ Tát tạng

  Tộc tánh tử (Kula putra Thiện nam tử) không có Thanh Văn thừa nên có tên là ba tạng. Lại cũng chẳng có Bích Chi Phật thừa nên có tên là ba tạng. Chỉ có các Bồ Tát mới học phép Đại Thừa, có tên là Tam Tạng. Vì sao vậy?

- Phàm kẻ thuyết pháp, phải đầy đủ tam thừa; nên có tên là Tam Tạng. Khi Bồ Tát thuyết pháp hay đầy đủ ba thừa. Cho nên ta gọi tên là Tam Tạng.

- Thiện nam tử có ba loại học nhơn:

Thanh Văn học, Bích Chi Phật học, Bồ Tát học.

Kẻ học Thanh Văn thừa chẳng học Bích Chi Phật thừa vì sao vậy?

- Vì không thể hiểu được.

Kẻ học Bích Chi Phật thừa chẳng học Bồ Tát thừa. Vì sao vậy?

- Vì không thể hiểu được

Này Thiện Nam Tử. Chỉ có chư Bồ Tát tuy học Thanh Văn Bích Chi Phật thừa, nhưng không chứng vào con đường của Thanh Văn, Bích Chi Phật. Học Bồ Tát thừa thâm nhập vào trí huệ của Bồ Tát mà thực hành Pháp ấy, thường hoan hỷ tùy thuận. Cho nên có nghĩa là như vậy. Bồ Tát thừa có tên là Tam Tạng. Không có nghĩa là Thanh Văn, Bích Chi Phật thừa. Ở nơi kinh điển đa phân biệt rõ ràng. Cho nên ta nay nói đại lược như thế, để ngươi biết ý nghĩa của Tam Tạng. Ngươi nay nên biết: Tăng Nhứt A Hàm, Trung A Hàm, Trường A Hàm, Tạp A Hàm cho đến trăm ngàn bài kệ, đó gọi là một tạng. Tỳ Ni A Tỳ Đàm hai trăm ngàn bài kệ đây có tên là tạng thứ hai. Tu học tất cả có tên là tạng thứ ba. Nếu nói như vậy, chẳng có tên là Tam Tạng. Vì sao vậy? Vì các kinh khác không phải là Phật nói. Như ngoài điều ấy ra, A Hàm, Tỳ Ni, A Tỳ Đàm v.v... lại cũng là Tam Tạng. Tạp Tạng. Xá Đầu La kinh, Thai Kinh, Trần Vương Bổn sanh, Bích Chi Phật nhân duyên, như thế có tám vạn, bốn ngàn Pháp tạng. Tôn giả A Nan là người thọ nhận từ Phật. Như thế tất cả đều không ra ngoài lời dạy của Phật.

Nếu như nằm ngoài điều đó, cũng phải biết rằng tất cả đều là Phật nói. Cho nên nói rằng: Tất cả đều là tạng. Điều nầy có nghĩa trăm ngàn tạng. Ta nói với ngươi là Tam Tạng. Tiếng nầy nó cũng tự hoại thôi. Lại cũng chẳng có Ngài A Nan đã thọ nhận và gìn giữ.

Sau khi Phật thành đạo 20 năm, ở trong chúng Tăng mà tự thuyết:

- Nay ta đã lớn tuổi, nên có kẻ giúp đỡ. Nếu có kẻ vì ta mà làm thị giả, khi tự nói lời ấy rồi, thì trong chúng có sự hòa hợp, liền sai ngài A Nan làm thị giả Phật. A Nan liền nói với những vị đồng Phạm Hạnh rằng:

- Như Lai có tám vạn bốn ngàn pháp môn, ta nay có thể thọ trì. Chỉ trước đây 20 năm, có hai Tỳ Kheo có thể thọ trì không thể hiểu hết về nghĩa nầy nên A Nan phải thọ trì, không có tên là Đa Văn cho nên khi Phật nói mà A Nan thật không thể thâu nhận, như trong Trung A Hàm nói: Tiếng của Thích Đề Hoàn Nhân và lời của Uất Đa La Tôn Giả.

Ta được tha tâm trí, xem tất cả chúng sanh trong cõi Diêm Phù Đề chẳng ai có thể thọ trì Pháp Phật, duy trừ Tôn Giả A Nan. Tất cả đều không thể. Do nhân duyên nầy mà phải biết rằng A Nan cũng chẳng thể thọ trì tất cả Pháp Phật. Các đệ tử Thanh Văn cho đến A Nan cũng chẳng phải là Pháp Khí, để thâu nhận trong các kinh Đại Thừa, khi diễn rộng ra như Thủ Lăng Nghiêm Kinh, Phật đã vì Tịnh Nguyệt Tạng thiên tử mà nói. A Nan tuy có trì nhưng hiểu lời không hết. Và những kẻ không thọ trì được thì có rất nhiều. Ta nay biết Pháp trong trăm ngàn vạn ức phần chẳng nói một phần. A Nan, nơi pháp của ta trăm ngàn vạn ức phần chẳng giữ được một phần.

Nầy Thiện Nam Tử! Ta ở trong một ngày một đem, có mười phương thế giới Phạm Thích, Tứ Thiên Vương, Thiên Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, cùng các Bồ Tát. Tất cả đều vân tập đến. Vì nói trí tuệ của Tu Đa La (Kinh). Kệ tụng chương cú và chúng sanh thực hành các phép Ba La Mật cho đến nói Thanh Văn, Bích Chi Phật thừa, xa lánh Sanh Tử, tán thán Niết Bàn, đầy đủ các Ba La Mật, cho đến vì các Thiên Tử, rộng nói các pháp trong một ngày một đêm. Giả sử như đầy vi trần ở cõi Diêm Phù Đề mà Đa Văn Trí Huệ đều như ngài A Nan, ở nơi một ngày một đêm, thì trong trăm ngàn ức phần đó lại chẳng thể trì giữ một phần. Lại cho đến đầy đủ mười phương vi trần thế giới cũng đều như A Nan, lại cũng chẳng thể thọ trì hết thảy giống như vậy được. Trong tất cả những kinh điển đều nói:

A Nan không thể là kẻ Pháp Khí thu nhận tất cả. Ở nghĩa nầy phải biết rằng A Nan không thể thọ trì các Pháp của Phật.

Hỏi rằng: 

- Như Lai Thế Tôn chẳng nói A Nan là Đa Văn Đệ Nhất sao?

Đáp rằng:

- Phật ở nơi chúng Thanh Văn giả nói A Nan là đệ nhất không phải là Bồ Tát. Lại nữa, các ông cũng biết rằng A Nan chẳng nghe giữ được hết tất cả huống hồ ý nghĩa của Đại Thừa đầy đủ thâm sâu. Với ý nầy có nghĩa là Thanh Văn thừa tức Đại Thừa nhưng việc nầy không phải vậy. Vì sao thế? Vì nhân quả khác nhau. Nếu là cái nhân của Thanh Văn thừa cùng cái nhân của Đại Thừa mà chẳng khác nhau, thì cái quả lại cũng chẳng khác. Nếu quả hiện tại khác, thì phải biết rằng cái nhân cũng khác. Vì sao vậy? Vì kẻ học Thanh Văn tức đoạn kết chướng thường hay quán vô thường từ pháp khác mà nghe. Còn Bồ Tát thì đoạn vi tế vô minh, các tập nhiễm, cho đến dùng không để quán tất cả các pháp chẳng từ nghe nơi khác mà được tự nhiên trí, vô sư trí. Cho nên có nghĩa là như vậy. Phải hiểu rằng chẳng phải là thế thì Thanh Văn thừa đồng nghĩa với Đại Thừa.

Hỏi rằng:

- Phật chẳng nói giải thoát không có sai khác sao?

Đáp rằng:

- Khi Thanh Văn giải thoát là lúc mà có thể làm cho Tu Di sơn tất cả đều hướng về Đạo Tràng đều phải cúi thân, ánh sáng chiếu rọi khắp mười phương thế giới, tám mươi do tuần, tất cả chúng Ma đều phải đến. Còn Bồ Tát giải thoát thì như trên đã nói, là như vậy. Đó là ý nghĩa ngoài kinh Phật tuy nói giải thoát tướng nhưng không khác. Lớn nhỏ thật ra đều có tính cách đặc thù. Giống như ở trong răng của con trùng và trong hạt cải là đều chẳng có. Tuy có tên là không nhưng trong mười phương thế giới sự không đó chẳng phải được một. Không tuy chẳng khác nhưng lớn nhỏ thì có sai biệt. Lớn nhỏ tuy có sai biệt lại như ánh lửa mà đem so sánh với ánh sáng của mặt trời và mặt trăng. Cũng giống như đem con muỗi mà so sánh với chim Đại Bàng. Cũng giống như Tỳ Kheo Bà Lưu Chi. Phật nói kệ Bổn Hành:

Tất cả những ánh sáng

Giống như ánh điện chớp

Sao trăng chiếu sai biệt

Mặt trời sáng thứ nhất

 

Bay chạy của loài thú

Muỗi kiến cùng loài ong

Sao sánh với chim bay

Chẳng như chim Đại Bàng.

Cho nên tuy có tướng giống ít nhiều, lớn nhỏ đều có tính cách đặc thù, phải biết do nhân duyên mà có sai khác, quả đó há giống sao? Lời nói của ngươi bảo rằng giải thoát không sai biệt, thì hãy quan sát thật tế: Sự giải thoát không giống nhau. Sự giải thoát của Thanh Văn, có nghĩa là giải thoát tận cùng của ái dục, chứ chẳng phải giải thoát tất cả. Chỉ vì kẻ độn căn, thiểu trí chúng sanh mà giả phân biệt ra để nói. Còn Đại Thừa giải thoát, thì phải dứt bỏ tất cả những phiền não tập nhiễm. Tất cả các việc đều phải tận diệt vì lợi căn của Bồ Tát mà nói rộng phân biệt ra, như Ta đang nói với ngươi đây. Thanh Văn giải thoát tức Đại Thừa giải thoát. Như Lai tức chẳng phải Nhứt thiết chủng trí mà vượt qua như vậy. Như có lần Như Lai bệnh nhẹ bảo Tôn giả Mục Kiền Liên đến nhà ông Kỳ Bà để hốt thuốc. Nhưng ông Kỳ Bà đã chết trước đó bảy ngày đã sanh lên cõi trời Đao Lợi. Mục Kiền Liên liền đến nơi cõi kia. Lúc ấy Kỳ Bà mời vào nơi hậu viên, và hỏi rằng:

- Như Lai bị bệnh phải dùng thuốc gì?

Đáp rằng

- Hãy dùng sữa Đề Hồ.

Thân của Như Lai giống như Kim Cang, các việc ác đã tận diệt há có bệnh sao mà phải hỏi Kỳ Bà?      

Như Tỳ Kheo Bà Câu La chín mươi kiếp trước đã dùng một quả dược phẩm để cho một người phạm hạnh, mà ở chín mươi kiếp giữa thân thường chẳng bệnh và đến thân sau cùng ở tuổi tám mươi, đầu tiên chẳng có bệnh nhẹ. Chỉ dùng một trái xoài nhỏ để bố thí đó là nhân duyên nên thường chẳng bị bệnh. Huống nữa là Như Lai trong muôn ức bách thiên vạn A Tăng Kỳ Kiếp đã đầy đủ bố thí và những công đức cũng không thiếu cho đến sát hại tay chân đầu não máu thịt mà bố thí cho những người bệnh, với nhân duyên nầy há bị bệnh sao?

Như trong kinh thường nói: Như Lai hiện ra bậc không phải Nhứt Thiết Trí. Như Lai cũng vào thành khất thực rồi trở về với bình bát trống không vì độ cho Đề Bà Đạt Đa xuất gia. Như trong kinh cây Khô đã nói rằng có nhóm chứa lửa lớn. Lúc ấy trong các Tỳ Kheo, có kẻ sanh thối tâm, vì muốn độ cho Mã Sư Mãn Túc. Nhiều người đa mắng Bà La Môn Đoạt Lại Xà Tác Giá và Ni Kiền Tử Tôn Đa Lợi v.v... trong 90 ngày phải ăn đồ ăn lúa ngựa. Ngài Mục Kiền Liên, Ngài Xá Lợi Phất đi sang chỗ khác. Cho đến những việc như thế tất cả đều có ý nghĩa là vì Nghiệp lực còn lại. Điều nầy không phải là điều tự nhiên, Vì sao vậy? Vì Như Lai đã tận diệt tất cả các việc ác và đã đầy đủ tất cả vô lượng công đức. Nếu có Nghiệp ác còn lại thì phải vượt qua tất cả. Ngươi chẳng nghe trong kinh nói:

- Như Lai đã vĩnh viễn đoạn trừ tất cả phiền não kiết tập ư? Như Ma Đà Già đã lìa tất cả và nói kệ tán thán rằng:

Tất cả kết tập hết

Duy chỉ vì cứu thế

Tất cả trí đều có

Công đức tất viên mãn

Có ba loại kết tập. Đó là Nghiệp tập, Phiền não tập và Uy nghi tập. Trong ba loại tập nầy, Như Lai đều vĩnh viễn xa lìa. Đây là nhân duyên mà nếu còn dư nghiệp thì phải vượt qua. Nay ngươi phải hiểu rằng đó là vì phương tiện vậy. Điều nầy lại cũng chẳng phải là chuyện không nguyên do. Vì sao thế? Như ý truớc đã nói với ngươi, thân Phật có thật cho nên chẳng nói là phương tiện lại cũng chẳng phải là ứng hóa thân. Ngươi đã nghe nói về phương tiện nơi kinh nào, hoặc ứng hóa. Ngươi cũng đã nghe nói trong kinh tuy chẳng nói nơi thân sau cùng, chẳng nói phân biệt pháp thân với ứng hóa phương tiện thân có chỗ khác nhau mà ta đã nói trong kinh Thập Trụ. Pháp thân có phân biệt chẳng giống với phương tiện ứng hóa thân. Cho nên trong kinh Đại Thừa nói:

- Phật là Nhứt Thiết Trí chẳng có gì để vượt qua nữa. Nay ngươi ở nơi Tiểu Thừa mà nói Nhứt Thiết Trí thì liền mất ý nghĩa của Đại Thừa. Có nghĩa rằng Thanh Văn Thừa tức là Đại Thừa, việc nầy không thể như thế được. Đại Thừa cùng Thanh Văn thừa đều có sự sai biệt rất lớn. Ngươi phải biết rằng trong Thanh Văn thừa hiển thị Đại Thừa. Việc nầy cũng chẳng phải là không có lý do. Vì sao vậy? - Vì lý và tướng khác nhau vậy. Thanh Văn thừa là từ pháp đó mà nghe, là thừa của đại tiên là chủng loại của Tam Bảo, chưa đoạn diệt hết. Như Tỳ Lưu Ly bảo mất đi chẳng ra khỏi thủy tinh thể của nó sai biệt. Cho nên phải biết rằng Đại Thừa là thậm thâm vi diệu, tâm này quảng đại mà Bồ Tát Ma Ha Tát lần lượt tu học. Đầu tiên từ sơ địa sau đó đến thập địa đầy đủ tất cả công đức trí nghiệp. Cho nên Phật nói tên là Đại Thừa.

Nếu từ Thanh Văn Thừa đến Đại Thừa, thì có cái lý của Bồ Tát tu học Thập Địa, đầy đủ tất cả các Ba La Mật. Cho nên hay sinh Tam Thừa Thiện Pháp. Như kinh Thập Địa,  Bồ Tát Kim Cang Tạng nói với Bồ Tát Giải Thoát Nguyệt rằng:

- Nầy Phật Tử! Giống nhu chương cú và chữ viết làm đầu. Tất cả các chữ viết phát xuất từ chữ gốc. Cũng như thế ấy Phật Tử, tất cả Phật Pháp cũng đều như vậy. Địa này bắt đầu lại cũng từ địa nầy mà được cứu cánh thành Tự nhiên Trí cho nên Đại Thừa có tên là thậm thâm. Ra khỏi tất cả công đức của Thanh Văn. Chẳng phải Tiểu Thừa có thể ra khỏi Đại Thừa được.

Phật nói: Thập Địa giống như vàng bạc đầy đủ không thất thoát. Sao gọi là chẳng thọ?

- Như Lai dùng năng lực từ bi để nhổ sạch gốc rễ vô minh. Nói Thanh Văn Thừa mà ông tín thọ, liền tự biên chấp thọ rồi làm theo phép của Tiểu Thừa, không tin Đại Thừa là một chánh giáo bình đẳng. Bởi vì lẽ ấy cho nên phải biết Phật nói Đại Thừa là Tối thắng vi diệu.

Hỏi rằng:

- Thế Tôn xưa kia có nói. Khi ta diệt độ ở trong đời vị lai có nhiều chúng sanh khởi lên những việc tranh luận. Điều nầy Phật nói rằng không phải Phật nói. Cho nên Như Lai đã dùng Pháp Ấn mà ấn ký cho. Nếu nghĩa nào thích hợp với kinh điển, tùy thuận với Tỳ Ni, không sai pháp tướng, thì đó là Phật thuyết phải không?

Đáp rằng:

- Phật chẳng nói thế. Thanh Văn Thừa chẳng phải là ta nói, lại đến Bồ Tát cũng lại như vậy. Phật nói chẳng sai khác. Tất cả đều là một, vì Pháp mà ấn chứng cho. Nay ngươi nói rằng vì nghĩa của Tu Đa La (Kinh Điển) mà văn tự có sao? Nếu mà văn tự ở nơi đó, thì thật ra chẳng có chỗ. Vì sao vậy? Mười hai bộ kinh. Tất cả văn kệ chương cú đều khác biệt. Cho nên phải biết rằng chẳng có văn tự nào trong đó cả. Nếu mà có nghĩa trong đó thì lý chẳng tương đồng. Nghĩa ấy, nếu thuận tu theo nghĩa của kinh điển và pháp tướng tương ưng thì nghĩa nầy sẽ hiển hiện. Cho nên có tên là thuận theo Tu Đa La. Nếu hiển thị theo pháp Thanh Văn thì có tên là Thanh Văn Thừa, tùy thuận vào nghĩa của Tu Đa La. Nếu hiển thị Pháp của Bích Chi Phật, thì có tên là Bích Chi Phật Thừa, tùy thuận vào Tu Đa La. Nếu hiển thị Pháp của Bồ Tát, thì có tên là Bồ Tát Thừa tùy thuận với Tu Đa La. Nếu ta hiển thị Thập Địa Công Đức làm sáng tỏ việc làm của Bồ Tát thì có tên là Chơn Thuyết tùy thuận vào Đại Thừa.

Nếu tâm ngươi biến nhập vào Tiểu Thừa Tam Tạng hoặc Đại Thừa Tam Tạng ta nói là vào, cho nên Tam Tạng đó tức là Đại Thừa. Vì sao vậy?

Trong 12 bộ kinh. Phật nói lược về Tỳ Ni nên gọi là Đại Thừa như trong A Hàm nói. Thế nào là Tỳ Kheo? Là người biết Pháp có thể giải được 12 bộ kinh từ Tu Đa La cho đến Ưu Bà Đề Xá. Phật lược bớt Tỳ Ni đó là Đại Thừa. Vì sao vậy?

Phật lược nói Kinh và Luật vì các chúng sanh mà nói pháp tu để đối trị với các pháp nên có tên gọi là Tỳ Phật Lược (Phương Quảng Kinh). Lại cũng có tên là Đa Thừa. Tên gọi khác của Tỳ Phật Lược (Phương Quảng Kinh). Lại cũng có tên là Đa Trang Nghiêm Cụ Túc là tên khác của Tỳ Phật Lược (Phương Quảng Kinh). Lại hay ra khỏi vô lượng quả báo lớn. Tên là Tỳ Phật Lược (Phương Quảng Kinh) không thể xưng đếm số lượng mà biết được. Trừ đoạn tất cả các tà kiến có tên là Tỳ Phật Lược (Phương Quảng Kinh). Nếu như ngươi hiểu trong Pháp Thanh Văn của Ta, mà nói rộng những kệ tụng chương cú của Tu Đa La cũng có tên là Tỳ Phật Lược (Phương Quảng Kinh) chẳng trụ nơi nào cả. Vì sao vậy? Vì ngươi y theo thuyết A Hàm làm Tỳ Phật Lược (Phương Quảng Kinh). Đó là ngôn ngữ, mà là  ngôn ngữ thì khó có thể tin được. Nếu trong kinh A Hàm, tất nhiên thuộc ý nghĩa nầy. Ở nơi chương cú nào vì Thanh Văn mà nói thì gọi là Tỳ Phật Lược (Phương Quảng Kinh). Nếu chẳng có định văn, thì phải biết rằng Tỳ Phật Lược (Phương Quảng Kinh). Hiển Pháp Đại Thừa thì không thể nói Thanh Văn Tiểu Thừa.

Ngươi nghe nơi một bộ kinh Thanh Văn nói, chẳng đủ trăm ngàn kệ tán văn cú huống nữa đến ức vạn nói rộng ra. Đức Như Lai Thế Tôn dạy cho các Thanh Văn chỉ bày về chỗ vô thường, làm cho ra khỏi nơi sanh tử, phải biết đây là gốc của sự khổ, xa cầu Niết Bàn, từ đầu là vậy. Cho đến phụng hành câu cú ý nghĩa thâm diệu. Tức nghĩa chẳng phải sâu sắc rộng rãi. Đại Thừa kinh nói: Bồ Tát vì công việc sâu xa rộng rãi nầy như kinh Thí Dụ, kinh Hiền Kiếp Tam Muội, kinh Giải Thoát, kinh Hoa Thủ v.v... Tất cả là Đại Thừa, đều có tên là Tỳ Phật Lược (Phương Quảng Kinh).

Như trong kinh Kết Giải Thoát, Thiện Tài Đồng Tử đến gặp các Thiện Tri Thức, đến chỗ của Ngài Tỳ Kheo Hải Tràng trong 12 năm, nhập vào Tam Muội Đại Hải, bạch với Ngài Hải Tràng rằng:

- Từ trong tam muội nầy rộng rãi vô biên. Trong Pháp môn to lớn nầy có tam muội chăng?

Nói lời ấy rồi liền từ nơi Đại Hải Tam Muội thấy Liên Hoa lớn, Phật từ đó hiện ra, liền lấy tay mặt xoa lên đầu, Ngài Hải Tràng tán thán rằng:

- Lành thay, lành thay Thiện Nam Tử! Sẵn đây có Pháp Môn Phổ Nhãn, Ngươi nên thọ trì.

Hải Tràng liền thọ câu cú của Pháp Môn Phổ Nhãn, rồi rộng nói ra, bảo Thiện Tài Đồng Tử rằng:

- Thiện Nam Tử! Ta chỉ trong một sát na mà có thể thọ trì Pháp Môn Phổ Nhãn. Dùng hết trong đại hải mà mài mực, giấy viết nhiều như núi Tu Di. Lấy hết cây cỏ trong thiên hạ để làm bút và Chúng sanh trên bờ cũng như dưới nước trong ba ngàn thế giới đều là thầy, mà trong khoảng sát na có thể nắm giữ Pháp Môn. Trong trăm ngàn phần đó, giống như chẳng thể biết hết một phần, huống lại một ngày một đêm cho đến mười hai năm, mà có thể thọ thậm thâm vô lượng vô biên những phần yếu nghĩa lớn. Thiện Tài Đồng Tử từ nơi một Thiện Tri Thức đã từng nghe Pháp Môn nầy rồi, có thể qua được vô lượng vô biên ức thiên số. Huống lại tra hỏi vi trần thế giới của chư Phật và Thiện Tri Thức chỗ nắm giữ giáo pháp. Do nhân duyên nầy nên đầy đủ Đại Thừa tên là Tỳ Phật Lược (Phương Quảng Kinh). Vô lượng Vô biên chẳng phải là Thanh Văn vậy. Nghĩa nầy thật sâu xa cho nên tất cả Thanh Văn phải tu Pháp hành, tức sẽ vào con đường Đại Thừa, là con đường tốt nhất. Đó có tên là Tùy thuận theo nghĩa của Tu Đa La.

Nay sẽ nói về Tùy thuận của Tỳ Ni. Tam Thừa Thánh Đạo đều giống nhau ở việc đoạn trừ tham dục, sân nhuế, ngu si. Có tên là Tỳ Ni. Tu Đa La nghĩa là phân biệt Nhân Quả. A Tỳ Đàm phân biệt pháp tướng. Lại cũng có nghĩa đoạn trừ phiền não. Đại Thừa cũng nói là Đoạn trừ tham dục, sân nhuế, ngu si, phiền não và tất cả các pháp ác.

Phật dạy Thanh Văn thanh tịnh ba nghiệp rồi có tên là Tỳ Ni, vì Bồ Tát nói ba nghiệp thanh tịnh rồi cho đến thành Phật cùng với chúng sanh đầy đủ tất cả Thi Ba La Mật, (Giới) Bồ Tát hay trì giữ giới tự tánh, phát bồ đề tâm, chứng được quả chơn thật. Cho nên phải biết đây là Đại Thừa, tùy thuận Tỳ Ni chẳng xa rời Pháp Tướng.

Tam Thừa kinh nói chẳng khác 12 nhân duyên. Đại Thừa lại cũng chẳng khác 12 nhân duyên là kẻ hay quan sát. Cho nên phải biết Đại Thừa tức là Tam Thừa Ấn. Nếu chẳng hay quan sát thì chẳng phải Đại Thừa, lại cũng chẳng đầy đủ Tam Thừa. Nếu kẻ nào hủy báng Đại Thừa, có tội rất lớn, nay ta nói cho ngươi biết đó là lời của Ma nói, chứ không phải Phật nói. Ở trong tất cả các kinh, thật ra chẳng có lời nầy. Nếu mà dùng miệng để nói, vì kẻ Đại Thừa kia tức là Ma nói. Cuối cùng chẳng có thể tin. Ý của ngươi, nếu là của Phật nói thì dụ như trong thân của Sư Tử có con trùng sinh ra, tức liền ăn thịt của Sư Tử. Ba thừa cũng đều giống như thế chẳng xúc phạm Đại Thừa. Cho nên phải biết đó là Đại Thừa. Chẳng phải của Ma vậy, đó là điều Phật nói.

Hỏi rằng:

- Cái nào không phải là của Ma nói? Tôi là Ma sao?

Đáp rằng:

- Ta và các ngươi đều chẳng phải Ma.

Hỏi rằng:

- Nếu ta và các ngươi chẳng phải Ma, kẻ nói lời Ma nói là ai? Tức là che trùm.

Đáp rằng:

- Pháp Đại Thừa của ta thuận với chúng sanh và nơi Pháp Tuớng ấy có nhiều Ma sự. Cho nên Như Lai ở nơi Đại Thừa nói lời hàng Ma, mà nơi Tiểu Thừa Pháp tuy hay tự độ, Ma chẳng nhiễu hại, thì phải tu như thế nào?

Như Đức Như Lai ngày xưa đã nói trong kinh Pháp Hoa và kinh Bát Nhã rằng, vào thời vị lai có nhiều chúng sanh hay khởi tâm ghen ghét phỉ báng, đọa vào cõi ác. Những tụng đọc của ngươi thuộc bộ kinh nào mà nói rằng Đại Thừa là do Ma nói? Trong bộ kinh đó chẳng tin Đại Thừa mà nói là Ma, chính từ Ma nói. Điều nầy chẳng thể tin được. Ý của ngươi nếu ở trong Pháp Thanh Văn lại có đoạn trừ ấy thì việc kia liền dứt sạch từ lâu. Khó có thể có chứng cớ. Điều nầy lại cũng chẳng phải thế. Vì sao vậy? Vì chẳng có nơi vậy. Nếu giả sử việc nầy do thần lực của Phật, thì có thể giữ gìn được Pháp nầy. Trải qua nhiều kiếp chẳng bị trôi nổi. Cho nên phải biết rằng lời của ngươi là lâu dài. Lại dùng đến ngôn ngữ, giả làm lời Ma nói hay trừ các cảm chướng, chẳng sai Chánh Pháp. Tuy gọi rằng Ma nói nhưng là Chánh Pháp. Cùng với lời của Phật không sai khác. Vì sao vậy? Như Phật nói rằng y pháp bất y nhơn, cho nên ta nay nói là từ lý luận chánh đáng, chẳng nắm giữ danh tự, mà nơi chúng ta cầu, hay diệt các chướng ngại về tri kiến, các chướng ngại về phiền não. Nghĩa là Thế Tôn nếu thật là Ma, thì cuối cùng chẳng thể nói Pháp cho Bồ Tát. Vì sao vậy?

Ma chẳng thể biết Bồ Tát từ thiền định mà sanh tu duy rồi tu huệ, rồi xa lìa các việc ác và các pháp bất thiện cho nên gọi là Đại Thừa.

Tuy Phật có thể nói từ sơ địa cho đến thập địa như thế lần lượt: Tứ thiền, Tứ vô lượng tâm, Tứ vô sắc định, Diệt Thọ Tưởng Định, Bồ Đề Tâm, Các Ba La Mật... Tùy nghi phương tiện thành thục nhiếp hóa chúng sanh. Thập Thiện Giới, nghe hiểu trí tuệ chẳng phóng dật, lìa thế gian tám pháp, bát thánh đạo, chuyển pháp luân, kiên trì đầu đã đầy đủ công đức, khổ không vô thường vô ngã tịch diệt, thập nhị nhơn duyên, vào ra các thiền định, ba cửa giải thoát, các Đa La Ni, ba mươi bảy phẩm trợ đạo pháp, các cửa thần thông, thật đế tứ biện, thiền trí nhị luân... tất cả đều tự trang nghiêm và tất nhiên hòa hợp để du hí trong các pháp, mà ở nơi Sanh Tử Niết Bàn, chẳng quay lưng với Sanh Tử, chẳng hướng đến Niết Bàn (Bất Bối Sanh Tử diệc Bất Hướng Niết Bàn)  Tâm thường xa rời việc ác, chánh quán các địa, rồi xa rời các địa, chẳng rơi vào Thanh Văn, Bích Chi Phật địa cùng nuớc của chư Phật. Tùy thuận nơi pháp nhẫn mà chứng vô sanh pháp nhẫn. Nơi bất thối chuyển địa thọ chánh vị địa. Lực vô úy cùng pháp bất cộng, tướng tốt của pháp thân, vì chúng sanh mà ở noi sanh tử thuận chuyển theo quyết định của việc chuyển đổi, mà tùy thuận hoặc không chuyển hoặc quyết định chẳng chuyển. Như thế nhân quả lần lượt các pháp, bất cộng pháp, phi giác pháp, mà Ma chẳng thể nói được, cũng chẳng phải là cảnh giới của Ma. Ma có bốn loại:

- Ấm Ma: Ta trọn chẳng nói Phật chẳng có thân ngũ ấm. Nếu nói như vậy, thật là Ma nói. Như lời nói nầy, Bồ Tát Di Lặc cũng từng ngăn như thế. Lại Tôn Giả Tân Đầu Lô, Tôn Giả La Hầu La, tất cả 16 vị Đại Thanh Văn chia ra đi khắp nơi, mà trong kinh cũng nói có 99 ức Đại A La Hán đều ở trước Phật để lãnh giữ nhiệm vụ Hộ Pháp và trụ ở những thế giới ấy. Phía đông có Phất Bà Đề Chữ, Mạch Chữ, Phiêu Chữ, Sư Tử Chữ, Diêm Phù Chữ, Đại Diêm Phù Chữ. Nơi Phạt Đề Lê Già, Kế Tân cho đến hồ lớn A Nậu, tất cả các bậc Hiền Thánh đều trụ ở đó để giữ gìn Phật Pháp. Nếu mà nói, Đại Thừa là Ma Thuyết, tức là đại hoạn của Phật Pháp. Các bậc Hiền Thánh đều nên xa rời. Cho nên phải biết, đó là Ma nói. Tất cả đều là vọng ngữ. Nói chuyện không có. Còn Đại Bồ Tát và các Hiền Thánh luôn luôn hộ trì Đại Thừa. Đây là hạt giống của Tam Bảo Đại Thừa không làm cho mất đi.

Hỏi rằng:

- Như ông đã nói nếu Đại Thừa là hạt giống của Tam Bảo, thì tất nhiên phải ủng hộ Bồ Tát Thanh Văn, nhưng tại sao bây giờ lại phỉ báng Đại Thừa mà không dừng nghỉ? Làm cho mọi người chẳng đọa vào địa ngục, chẳng vào cõi ác, chẳng hủy hoại Phật pháp.

Đáp rằng:

- Nghiệp Báo quyết định không thể trừ dứt. Nghiệp lại có hai loại. Một là Quyết Định tăng trưởng, Hai là Quyết định thọ báo, mà không phải các Bồ Tát Thanh Văn Hiền Thánh có thể trừ diệt được. Khi tạo tác ác nghiệp, tất nhiên phải thọ báo, chẳng thể cứu vớt. Như Tỳ Kheo Cù Già Ly (Kokàlika, đệ tử của Đề Bà Đạt Đa) phỉ báng kinh điển Đại Thừa nói là Ma nói, phải biết người nầy ắt nhiên phải đọa địa ngục không thể cứu được.

Hỏi rằng:

- Ông nói rằng phỉ báng Đại Thừa có thể phải vào ác đạo. Lại như lời nói của Nai tôi chưa tin đuợc.

Đáp rằng:

- Ông nói Phật nói Đại Thừa là lời của Ma, tức thị phỉ báng tam thế chư Phật lại làm cho tất cả chúng sanh đều giận dữ. Lời nói thật là quanh co, thọ ác khẩu và vào nơi tội báo chẳng thiện. Như Phật nói bài kệ rằng:

Người sanh nơi thế gian

Búa ở ngay nơi miệng

Tự làm hại thân mình

Tất cả do ác nghiệp

Ông phỉ báng Đại Thừa như lời nói của Nai chẳng phải là ta nói. Nay ta muốn làm cho ngươi chẳng khởi lên sự phỉ báng là vì sự lợi ích vậy. Cho nên nói rằng: Giống như người đang bịnh chẳng thể ăn gì được. Lương Y khám bịnh cấm không được nghe vì thương tưởng ông nói lời vọng ngữ. Gọi là Đại Thừa nhưng thật là Ma nói. Quá khứ chư Phật đã nói pháp Đại Thừa. Chư Phật trong tương lai sẽ thuyết Pháp Đại Thừa. Hiện tại chư Phật đang nói pháp Đại Thừa nên có tên là đoạn trừ phỉ báng Đại Thừa. Bồ Tát vì đoạn trừ phỉ báng Đại Thừa cho nên diễn thuyết nói phẩm Sơ Nhập Đại Thừa Luận.

Hỏi rằng:

- Ông nói làm cho kia không phỉ báng Đại Thừa, thì nay làm sao mà vào Đại Thừa?

Đáp rằng:

- Bồ Tát đầu tiên sẽ đầy đủ các chủng tánh, tùy thuận việc làm lành, giải thích rộng rãi, trong tâm quảng đại, biên giới quảng đại, chủng tánh quảng đại, tánh liền đầy đủ, tâm nầy như hòa, xa dần phiền não, ít tham sân si, ham tu việc thiện, tinh cần tụng đọc, những chúng sanh như thế lục căn đầy đủ hay phát đại nguyện, muốn cầu Phật đạo, chủng tánh tướng mạo như Phật đã nói. Còn kẻ hạ căn hạ tánh, thì ý hạ liệt khởi, sở nguyện không cao. Còn kẻ trung căn trung tánh phát tâm vừa vừa, sở nguyện cũng vừa. Còn kẻ thượng căn thượng tánh, phát tâm cao thượng, sở nguyện cao thượng, cho nên chư Phật tùy theo căn tánh nầy mà dùng từ tâm phân biệt để dạy dỗ.

Hỏi rằng:

- Thượng căn chúng sanh vì nói Bồ Tát thâm diệu pháp tạng, thì phải biết căn tánh, phải thực hành sâu xa Bồ Tát Hạnh, nói Bồ Tát tạng. Kẻ làm Bồ Tát tạng thì đương ở nơi nào?

Đáp rằng:

- Có mười loại như thế để đến giải thoát địa. Có thể nghe Bồ Tát Tạng chứng được 10 loại pháp hành, lìa khỏi 10 sự giải thoát, liền được vào nơi Bồ Tát Hạnh. Thế nào là 10?

- Một là tu Bồ Tát Giải Thoát Hạnh, dầu ít dầu nhiều đều phải tu tập

- Hai là các pháp sở hữu của Bồ Tát dầu ít dầu nhiều đều phải viết lách

- Ba là Bồ Tát Tạng Pháp dầu ít dầu nhiều cũng đều cúng dường

- Bốn là Pháp của Bồ Tát dầu ít dầu nhiều cũng đều tuyên đọc

- Năm là Pháp của Bồ Tát dầu ít dầu nhiều cũng phải nghe lãnh

- Sáu là Pháp của Bồ Tát dầu ít dầu nhiều cũng đều thọ trì

- Bảy là Pháp của Bồ Tát dầu ít dầu nhiều cũng đều tụng đọc dần dần thông hiểu

- Tám là Pháp của Bồ Tát dầu ít dầu nhiều cũng vì kẻ khác mà phân biệt diễn nói

- Chín là Pháp của Bồ Tát dầu ít dầu nhiều cũng đều suy nghĩ giải rõ nghĩa lý

- Mười là Pháp của Bồ Tát dầu ít dầu nhiều riêng ở tu duy, tu tập thêm sáng. Đây có tên là Bồ Tát thật hạnh.

Phần thứ tám là Bồ Tát Văn Huệ, Phần thứ chín tức Bồ Tát Tu Huệ, Phần thứ mười tức Bồ Tát Tu Huệ.

Hỏi rằng:

- Khi Bồ Tát được Văn, Tư, Tu rồi thì vào nơi hành nào?

Đáp rằng:

- Khi được vào các địa rồi thì vào cửa giải thoát, như thế lần lượt văn, tư, tu sẽ phát sanh. Thấy được pháp giới, chứng được các địa, tu tam giải thoát môn.

Hỏi rằng:

- Thế nào gọi là tam giải thoát môn?

Đáp rằng:

- Hành không vô tướng, vô nguyện.

Hỏi rằng:

- Thế nào là không?

Đáp rằng:

- Quán Ngã, Nhơn, Chúng sanh chẳng có tự thể. Tánh tướng thường vắng lặng.

Hỏi rằng:

- Thế nào là giải liễu?

Đáp rằng:

- Phải vào trong 12 nhân duyên

Hỏi rằng:

- Có phải không, giải thoát khác với pháp 12 nhân duyên chăng?

Đáp rằng:

- Không cùng với 12 nhân duyên chẳng có tướng khác.

Không tức là 12 nhân duyên và 12 nhân duyên tức là không. Vì sao vậy? Vì nhân duyên do sự giả hợp mà khởi lên chẳng phải do tự thể của nó, như Tôn Giả Long Thọ có bài kệ rằng:

Mười hai nhân duyên, Không

Ta nay muốn giải thoát

Giả danh, Nhân Duyên Pháp

Đây chính là Trung Đạo

Tất cả các pháp đều là không tịch. Vì sao vậy? Vì tất cả thuộc về nhân duyên không có tự tánh.

Hỏi rằng:

- Nếu tất cả pháp do nhân duyên sanh, thì tại sao nói là không có thể tánh?

Đáp rằng:

- Nói là nhân duyên bởi vì theo thế đế mà nói. Đệ nhất nghĩa đế tức là vô thể tánh, lại cũng chẳng sanh, nghĩa là không có sự sanh, lại cũng chẳng diệt. Nghĩa là vô sanh vô diệt, tức chơn như tịch diệt. Chơn như tịch diệt tức là tất cả các pháp đều tịch diệt. Cho nên ta nói tất cả các pháp chẳng có thể tánh là vậy. Như trong kinh Lão Mẫu, Đức Thế Tôn đã nói:

Giống như con người và cái dùi trống. Do các duyên hòa hợp ta nghe được âm thanh. Với âm thanh nầy chẳng phải ở ba đời, cũng chẳng phải ở trong ngoài, cũng như ở giữa mà tánh của nó là không tịch, chẳng sanh chẳng diệt. Giống như bây giờ ta biết các pháp thể tánh đều như vậy. Cho nên trong kinh Lão Mẫu Phật tự nói là không. Nghĩa là Bồ Tát từ trong vô lượng kiếp tu tập phước đức, thiền định, trí huệ, tức sẽ nhập vào tam giải thoát pháp môn, hay quán sanh diệt tất cả đều không tịch. Giống như ngọn lửa huyễn hóa và thành Càn Thát Bà tất cả đều do mộng hóa thành như Phật đã nói.

Khi biết mười hai duyên

Chúng sanh đều là Không

Trong khoảng sát na được

Lửa huyễn thành Thát Bà

Cứ lần lượt như thế vào cửa Không Giải Thoát, tâm nầy nhất định an lạc, được lợi ích ý nghĩa.

Hỏi rằng:

- Ngoại đạo chấp trước vào ngã kiến, làm sao có thể đoạn được?

Đáp rằng:

- Nếu ngoại đạo đối với sắc bên trong và bên ngoài, tất cả đều sanh nhiễm trước, chấp vào ngã và ngã sở, thì thuận theo dòng sanh tử lưu chuyển. Kẻ chấp ngã, thì ngã ấy có thể thí cho việc ăn uống tài vật. Như thế nhiều loại khác nhau nương vào nơi ngã kiến và chúng sanh kiến. Còn kẻ bị ngã và ngã sở nghĩa là do cái ngã tạo tác, thì cái ngã đó thuộc về vật chất cứ như thế mà nương tựa vào ngã sở (thuộc về ta). Rồi do việc làm mà hình thành. Hoặc một hoặc khác, hoặc khác một, hoặc chẳng một chẳng khác. Do thủ trước biên chấp. Từ lời nói mà sanh giận hờn hoặc cảm nhận ở trong đời cho đến thân nầy cũng nằm nơi nghĩa đó. Lưu chuyển nơi sanh tử, chẳng hiểu được nhân duyên của các pháp thuộc về tánh không.

Hỏi rằng:

- Nếu các ngoại đạo chẳng hiểu về nhân duyên mà khởi lên bốn sự chấp trước thì làm sao người ta có thể vượt qua được.

Đáp rằng:

- Ngài Tăng Khư nói: Khi mình tính Một, thì công việc và người thực hành là một, việc cùng làm và người cùng làm là một, phân chia và sự phân chia cũng là một. Như thế tất cả đều gọi là Một. Nhưng mà Ngài Ưu Lâu Khứ tính khác. Ni Kiền Đa tính khác một. Đề Tử tính chẳng phải một, chẳng khác một.

Tất cả ngoại đạo cho đến Ma Tha La tính khác. Tất cả chẳng xa rời bốn loại tính.

Hỏi rằng:

- Tăng Khư (Số Luận) bảo rằng công việc và kẻ làm là một thì phải vượt qua như thế nào?

Đáp rằng:

- Ngôn ngữ là hai nhưng mà chẳng gọi là Một. Cái việc làm là nhân, kẻ làm là quả. Việc nầy chẳng giống nhau. Vì sao nói một. Nếu thật mà khác một thì thật là điên đảo. Vì sao vậy? Vì kẻ làm tức là làm công việc đó. Công việc làm tức là kẻ làm. Trước sau có khác, thì hỏi làm sao một được.

Hỏi rằng:

- Dùng trước sau là một, như khi mọc răng thì tuy có trước sau, nhưng nó luôn luôn tương tục nên gọi là một?

Đáp rằng:

- Việc nầy cũng có thể qua được. Nếu mà làm việc đó ở trước và kẻ làm nằm ở sau, thì sự sanh sau đó là khác. Vì sao gọi là một? Dụ như có một cái bánh, không thể chia đều được. Giống như sừng trâu không thể giống với nguyên nhân sanh ra được, cho nên công việc và kẻ làm công việc cũng giống như thế. Lại nữa công việc làm và kẻ làm công việc chẳng được là một. Tiếng và nghĩa khác nhau. Nhân duyên và thời gian khác nhau. Ngôn ngữ và thể tánh khác nhau. Nếu là như vậy, tức có thể vượt qua được. Nếu là một thì không có hai tên mà tiếng nghĩa thể tướng trước sau đều khác. Chẳng được là một, nếu mà việc làm, kẻ làm là một. Như chấp vào bột (Nê Đoàn) Đào Sư. Như sợi chỉ gai, sữa đề hồ là những vật có thể có được, nhưng mà cũng không được. Ở đây phải biết rằng chẳng phải Một, như tâm của ta cũng chẳng được là Một. Nếu là Một, tức tâm vô thường, cái ngã cũng vô thường. Cho nên công việc làm và kẻ làm là hai việc giống nhau. Việc tính toán và kẻ tính toán, việc phân chia và kẻ phân chia tức đồng bị phá hủy. Có một cái bánh cũng bị phá luôn. Như sắc tướng cùng một cái bánh, cho đến sợi vải trắng, lá xanh dài ngắn tròn đủ. Như thế những vật được làm đều có thể qua được.

Hỏi rằng:

- Tỳ Xá Khư thì đếm khác. Làm thế nào để qua được?

Đáp rằng:

- Nếu công việc làm và kẻ làm khác nhau, thì cũng có thể vượt qua được.

Hỏi rằng:

- Làm sao vượt qua được? Mong nói rõ cho.

Đáp rằng:

- Nếu bánh và bột khác nhau, thì khi làm bánh có thể lấy sợi gai. Để làm cái bánh không thể lấy sợi gai, cho nên biết rằng không khác. Lại biết rằng bột (Nê Đoàn) là do vi trần mà thành. Cái bánh thì do bột (Nê Đoàn) mà thành. Nếu cái bánh khác nê đoàn, thì cái bánh chẳng có thể còn bột (Nê Đoàn) thì thành bánh vậy. Chẳng thể sai khác. Bột (Nê Đoàn) là vi trần của kẻ làm. Cái bánh là việc làm. Nếu mà công việc và kẻ làm khác nhau, thì bột, vi trần, bánh đều có tên khác. Cũng chẳng phải là hai. Cho nên việc làm và kẻ làm cũng chẳng phải khác. Cái nhân là sợi to, sự thành tựu là sợi vải. Nhân là cây cỏ, thành tựu là cái ghế ngồi, tất cả cũng đều giống như vậy. Lại nữa nếu một cái bánh là khác thì tất cả các bánh đều hoại tại sao vậy? Nếu có một mà chẳng phải cái bánh, thì lìa cái đó là bánh. Nếu có một là bánh, thì có nhiều cái bánh mà một thì chẳng có. Có cũng lại là chẳng có, thì tức là chẳng có bánh là do nghĩa đây vậy. Ông tính khác đi, tức là hoại tất cả các pháp.

Hỏi rằng:

- Nếu nói như vậy, chẳng hoại tất cả pháp thì tại sao có một nương vào cái bánh để thành lập. Như vậy có một cái bánh được tạo thành?

Đáp rằng:

- Nếu có một và bánh hợp lại, thì một đó là bánh. Nếu bánh cùng với một hợp lại thì cái bánh kia cũng có tên là một. Đó là do một hợp lại. Chẳng phải khác. Lại nữa có một là khác dụ như sợi chỉ trắng, điều nầy có thể qua đuợc. Vì sao vậy? Vì màu trắng không phải là chỉ, sợi chỉ cũng chẳng phải là màu trắng. Màu trắng và chỉ khác nhau. Ngoài vật kia ra cũng đều như vậy. Như khi đốt sợi chỉ đi thì màu trắng chẳng phải bị thiêu. Nếu sợi chỉ bị thiêu, màu trắng cũng bị thiêu tức chẳng khác. Ông nên biết rằng vật thì khác, mà tướng thì khác. Việc nầy không phải tự nhiên như ông đã nói trước, mà sáu việc đều khác nhau phải nên vượt qua.

Hỏi rằng:

- Ni Kiền Đa trước đây nói một là khác thì làm sao có thể vượt qua được?

Đáp rằng:

- Ông nương vào một là khác, hoặc nói công việc làm là người làm. Hoặc nói công việc làm là khác với người làm. Điều nầy lại có thể vượt qua.

Hỏi rằng:

- Vượt qua như thế nào?

Đáp rằng:

- Nếu công việc làm là kẻ làm thì sự việc ấy tức chẳng thành tựu. Nếu công việc làm và kẻ làm khác nhau, thì việc ấy lại cũng chẳng thành. Vì sao vậy? Vì nhân quả đều sai khác. Như vậy thế nào là một. Do các duyên tạo thành quả vậy. Chẳng thể khác. Tướng làm và kẻ có tướng làm đều như vậy cả.

Hỏi rằng:

- Như cái bánh các tướng phá, mà cái thể chẳng bị phá. Cho nên cái thể thì không phá vậy. Lại là khác. Khi thấy cái thể của nó là hiện tại mà cái tướng là phá. Khi phá cái bánh ra thì căn bản trở thành không. Chẳng có gì khác.

Đáp rằng:

- Nếu nó là một, thì cũng giống như Tăng Khư  (Số Luận) phá. Nếu nói khác thì cũng đồng như Tỳ Xá Sư phá. Như lá xanh, chỉ trắng lại cũng đều bị phá.

Hỏi rằng:

- Nếu đệ tử tính chẳng một chẳng khác thì làm sao có thể vượt qua được?

Đáp rằng:

- Ba người tính phía trước, mỗi vị đều có sở chấp. Ông thì nói chẳng một tức có nghĩa là khác, còn nói chẳng khác, tức có nghĩa là Một. Vậy thì cái gì là sở chấp mà nói chẳng một chẳng khác. Nếu chẳng có sở chấp tức là nói lời dối trá, tức hoại pháp tướng.

Hỏi rằng:

- Ông nói về Đại Thừa, thì không có sở chấp mà ông lại hoại tất cả pháp tướng?

Đáp rằng:

- Cái sở chấp của tôi là hiện thấy thế gian. Đây là pháp nhân duyên. Còn ông nói tức là điên đảo chẳng thuận với tướng pháp.

Hỏi rằng:

- Thế nào là tướng Pháp mà nói là ngã hoại pháp tướng?

Đáp rằng:

- Nghĩa là vô thể tướng tức là thể tướng.

Hỏi rằng:

- Thế nào là vô thể tướng và thể tướng?

Đáp rằng:

- Không có tên thì gọi là vô thể tướng

Hỏi rằng:

- Thế nào gọi là Không Tên? Có cái Không hay là Vô Vi Không?

Đáp rằng:

- Ngã chẳng có cái nghĩa là Không, lại cũng chẳng không có cái nghĩa là không, mà phải lìa cái có không mới gọi là Không.

Như Tôn Giả Long Thọ nói bài kệ rằng:

Chấp có gọi là thường

Chấp không gọi là đoạn

Nếu lìa hết Có, Không

Mới là Chân Thật Không

Lại nữa trong Trung Luận, Ngài Long Thọ nói kệ rằng:

Chấp Hữu vào thể tướng

Chấp Vô đắm thể không

Chẳng chấp vào Có Không

Tức là Chân Thật Quán.

Cho nên lìa có không thì gọi là Không, nghĩa là lìa đoạn và thường vậy. Có tên là Trung Đạo. Nếu hay giác ngộ Pháp tướng như vậy, có tên là Phật. Cho nên mười hai nhân duyên nghĩa là Không.

Hỏi rằng:

- Mười hai nhân duyên phải chứng như thế nào để biết nó là không?

Đáp rằng:

- Cũng giống như cái bánh, bột (Nê Đoàn), và sợi chỉ cho đến Đào Sư và các nhân duyên hợp thành. Sau đó thành bánh. Nếu không có bột (Nê Đoàn) thành không có bánh. Lại chẳng lìa bột thì có bánh, nên giả danh của nó gọi là bánh, đó thuộc về cái nhân duyên, chẳng có thể tướng, chẳng có thể tướng nên không có sanh. Không có sanh, nên thể tướng là tịch diệt và nhân duyên thành tựu. Cho nên gọi là vô thể. Nếu các pháp định trước có tự thể thì chẳng phải là nhân duyên, tức chẳng có nơi chốn, không có tự tướng. Nghĩa là không có cái bánh. Bánh không có thì tất cả các pháp cũng đều không. Như Tôn Giả Đề Bà có kệ rằng:

Một Pháp nếu có thể

Các Pháp cũng như thế

Tất cả Pháp đều Không

Nhân duyên hết thảy Không

Chân thật quán một Pháp

Các Pháp chẳng hai tướng

Hiểu thật không ấy rồi

Tức thấy tất cả không.

Hỏi rằng:

- Nhân duyên sanh Pháp tức là thể tướng?

Đáp rằng:

- Việc ấy chẳng phải như vậy. Vì sao thế? Nếu có thể tướng, nếu không thể tướng, chẳng phải ngươi ở đó thì ai là người nói. Nhân duyên làm thể tướng. Nhân duyên từ đó mà sanh. Thế nào là thể mà nói là thể tướng. Từ tự tánh mà khởi chẳng thuộc nhân duyên. Nếu thuộc nhân duyên tức vô tự tánh. Dụ như giả mượn cái không làm có, cho nên nhân duyên do sự giả hợp mà thành, chẳng có tự thể như Tôn Giả Long Thọ nói bài kệ rằng:

Các Pháp do duyên sanh

Tức là không tự tánh

Nếu chẳng có tự tánh

Làm sao có thể tướng?

Hỏi rằng:

- Thể tướng của các pháp do sự thấy biết hiện tại của thế gian sao gọi là Không?

Đáp rằng:

- Việc ấy chẳng phải như vậy. Phàm do ngu muội vọng tưởng mà thấy. Việc nầy chẳng có gì để tin. Các pháp đều sanh diệt, tất cả đều là không. Sanh diệt lưu chuyển. Không bao giờ dừng nghỉ luôn luôn tiếp tục mà sự thấy biết hư vọng đó cho là thật. Giống như đốm lửa, niệm niệm sanh diệt mà kẻ phàm phu ngu nhân nghĩ rằng có một đốm lửa di chuyển thật nhanh. Ảnh kia huyễn hoặc như Phật đã nói Huyễn là huyễn tất cả đều chẳng có. Nhưng kẻ thấy sai thì cho là thật mà kẻ thấy thật đó cũng như ngạ quỷ chẳng thấy nước là lửa, cát đá là huyết mà những chúng sanh thiện ác tùy theo Nghiệp mà thấy được. Nếu tâm thanh tịnh, chúng sanh có lợi căn liền thấy việc ấy là không. Dạ Xoa, Ngạ Quỷ thấy nước ở xa gần đều nghĩ là lửa liền sanh nghi hoặc. Nếu vật là thật có thì chẳng có hai cái thấy, mà do hai cái thấy ấy tức biết là không thật, đó là việc thấy hư vọng. Cho nên biết rằng tất cả các pháp đều không thể tướng. Và không thể tướng nên tất cả là không sanh diệt.

Hỏi rằng:

- Nếu tất cả các pháp đều chẳng sanh, chẳng diệt. Thế nào có đến, có đi, có đoạn, có thường?

Đáp rằng:

- Thấy chủng tử liền biết đến đi lại đuợc Pháp Không, tức lìa thường đoạn. Như  nhơn là chủng tử thì có hạt nhân cành lá hoa quả tiếp theo mà thấy hạt nhân sanh, thì chủng tử diệt cho nên chẳng đoạn. Cho đến khi quả sanh thì hoa diệt. Lại vô thường trôi qua như Tôn Giả Đề Bà nói kệ rằng:

Chư Pháp luôn tương tục,

Tức chẳng phải đoạn diệt.

Nhân diệt thì quả sanh

Chẳng có tên là Thường

Cho nên thấy Nhân Duyên Không, tức lìa thuờng đoạn.

Hỏi rằng:

- Không hiểu Nhân Duyên Hành, thì làm sao lìa được Thường Đoạn?

Đáp rằng:

- Vì nhân là vô minh, nên có thiện ác hành cho đến nhân sanh ra lão tử. Kẻ phàm phu chẳng hiểu nhân duyên tương tục mà vọng cho đó là chân thật. Nhưng thể của vô minh chính là không, thì hành, thể của Hành cũng là không, cho đến Sanh, thể của Sanh cũng là không, lão tử, thể của lão tử cũng là không. Nơi thế gian đều là giả danh vì có sự tương tục chẳng có sự đoạn diệt. Niệm niệm chẳng dừng nghỉ, nên không có cái thường, mà phàm phu chúng sanh, chết ở đây sanh ở chỗ kia, luôn luôn liên tục như thế. Như Phật đã nói ở đệ nhất nghĩa. Chẳng có chúng sanh chết đây sanh kia, thì thế đế là giả danh mà thức là chủng tử. Hành nghiệp là đất đai để nuôi sống ngã mạn. Vô minh là bụi phấn, nước ái thấm qua rồi tinh cha huyết mẹ các duyên hòa hợp sanh ra hình tướng cho nên có sắc mà không có tự thể. Giống như chân giường cũng là giả tướng khi dùng. Đầu tiên có tên là Ca La La. Tên thứ hai là An Phù Đà, Tên thứ ba là Nhục Đoạn. Tên thứ tư là Kiên Thạch. Tên thứ năm là Bảo Khai Trướng. Tên thứ sáu là Xúc. Sanh ra các Pháp lần lượt như thế. Tướng giả mà có. Không có tên là đoạn. Bồ Tát hay giải là pháp nhân duyên tức biết đó là Không. Nhân duyên là không nên tất cả các pháp đều không. Hiểu các pháp là không nên chẳng có đoạn chẳng có thường như trong kinh Xuất Thai, Phật nói kệ rằng:

Theo giả đặt tên

Mà được các Pháp

Tên kia chẳng Pháp

Đó là Chân Thật

Cho nên chẳng dùng lời nói có Pháp, hoặc tùy theo tên gọi mà có các Pháp. Pháp tức là nhiều thể. Dụ như không Pháp thì không một không nhiều.

Hỏi rằng:

- Nếu tất cả Pháp đều không thể, thì lời nói của ông có qua cái có, cái thấy trong hiện tại không?

Đáp rằng:

- Nếu Pháp mà thật có, thì lời nói không thể vượt qua được cho nên gọi là Pháp tức là chẳng có. Vì sao dùng lời nói để vượt qua. Cho nên các Pháp lúc ban đầu sau rốt cũng đều như vậy. Nếu các Pháp nhất định có thể tướng, thì sau khi Niết Bàn tức phải đoạn diệt, mà trước đó không cũng là không. Sau đó nói không tức là tà kiến, hủy hoại Chánh Pháp, lại chẳng giải thoát như Tôn Giả Đề Bà nói kệ như sau:

Chẳng Không mà thấy Không

Ta chứng được Niết Bàn

Tà kiến chẳng Niết Bàn

Như Lai đã nói vậy.

Các pháp vốn là Không, hay thấy là Không, giống như quá khứ Phật đã thấy tướng Không ấy. Bây giờ cũng lại như vậy. Cho nên ta nói pháp nhân duyên là Không chẳng thể khác được. Từ đó mà lập nghĩa đế thứ nhất. Sau đó phân biệt ra thế đế. Ta và chúng sanh như công việc làm và kẻ làm, cho đến khác một tức chẳng thể mất như Tôn Giả Long Thọ có nói kệ rằng:

Chẳng nói phân biệt đế

Chẳng được nơi thật đế

Nếu chẳng được thật đế

Tức chẳng chứng Niết Bàn

Lại có kệ rằng:

Chư Phật nói các Pháp

Thường nương vào hai đế

Phân biệt nơi thế đế

Và cùng đệ nhất nghĩa

Nếu không thể phân biệt

Chơn tục hai Thánh đế

Như vậy tức chẳng biết

Phật pháp nghĩa sâu dày

Cho nên Pháp của nhân duyên là Không. Có tên là Chơn Như, Pháp Tánh chân thật. Đó có tâm là tu tập ý nghĩa đệ nhất của Thiền Định, thấy nhân duyên đều không. Tứ có nghĩa là không giải thoát môn. Nếu thấy là Không, tức chẳng thấy các Pháp tướng, cho nên có tên là Vô Tướng Giải Thoát Môn, thấy không có tướng vậy. Chẳng có chỗ nguyện cầu, cho nên có tên là Vô Nguyện Giải Thoát Môn, an trụ nhu thế nơi giải thoát môn. Chủng tử của thức nằm nơi tam giới, tức chẳng thể là mầm mống sinh ra danh sắc. Thức không có chấp trước, diệt ba đường khổ. Ba đường ấy diệt rồi thì liền chứng tịch diệt Niết Bàn. Như Tôn Giả Đề Bà đã nói kệ rằng:

Thức là nghĩa chủng tử

Du hành ở sáu nơi

Nếu thấy các trần không

Có mầm tức đoạn diệt.

Hỏi rằng: Bồ Tát biết là Không, nên ra khỏi sanh tử. Vậy thì hơn cả nơi Thanh Văn sao?

Đáp rằng: Bồ Tát làm lợi ích cho thế gian và xuất thế gian, độ người như lửa đất, chỉ có xuất thế gian là có thể trụ nơi thế gian để giáo hóa chúng sanh. Thanh Văn không phải vậy, sợ hãi nơi sanh tử, cầu mau được diệt độ, ra khỏi con đường của thế gian, thấy thế giới. Thấy pháp giới rồi, liền đến bờ mé của Niết Bàn. Bồ Tát không như thế. Vì sao vậy? Vì Bồ Tát thấy chúng sanh khổ, khởi lòng thương lớn, vì muốn độ cho kia được ở yên nơi cảnh trang nghiêm. Nơi A Tăng Kỳ Kiếp, tu hành xuất thế gian chỉ trong một niệm. Xem xét tất cả pháp giới. Khi quán xét pháp giới rồi, duyên vào với chúng sanh mà không giữ quả chứng đắc, liền làm cho tất cả được độ thoát, như Phật đã nói nơi kinh A Nhục Đại Trì. Giống như hai người muốn lên nơi đỉnh núi. Một người thì có sức lực, đầy đủ phương tiện thiện xảo, Khi dùng phương tiện rồi liền được lên đỉnh núi. Còn người kia ít có sức lực, lại chẳng có phương tiện, tức liền thoái lui, chẳng thể lên núi được. Bồ Tát ở nơi pháp Vô Vi, chẳng chứng quả, chẳng chấp trước cũng giống như người thiện xảo, được lên trên đỉnh núi, chứng được vô vi. Như có ít phương tiện thì chẳng thể bắt đầu được. Cũng giống như Trưởng Giả chỉ có một người con bị đói khát nơi nước kia, trải qua hơn 10 năm. Sau đó Trưởng Giả ở nơi thành lớn, nhà nầy rất giàu, chứa nhiều của quý, dần đến phải dùng sức lực để làm thuê, rồi trở về lại nước cũ.

Bồ Tát có vô lượng vô biên A Tăng Kỳ công đức để đến lửa đất kia, hướng đến Niết Bàn, vì thương chúng sanh lại nhập vào nơi sanh tử trong A Tăng Kỳ kiếp, chịu khổ dài lâu. Bồ Tát Ma Ha Tát vượt khỏi cái khổ lớn ấy để cầu vô thượng quả bất khả tư nghì, ra khỏi tất cả Thanh Văn, Bích Chi Phật, đầy đủ tất cả công đức trí huệ. Cho nên vượt qua đám lửa nơi đất kia. Thế nào là Bồ Tát vượt qua cái khổ lớn kia? Cũng giống như có một người lên thuyền vào biển lớn gặp gió lớn sóng như núi, gặp nhiều chướng nạn khó khăn, tâm đang lo rầu khốn khổ sanh ra sợ hãi. Lúc ấy thuyền trưởng giả mang đến một cánh buồm hay giúp cho kẻ kém phước đức kia, qua khỏi được nơi hiểm nạn để gặp được trân bảo. Bồ Tát Ma Ha Tát ở nơi biển sanh tử cũng giống như thế. Vì kẻ ác tri thức không tin nơi khó khăn, chỉ hướng đến con đường ác. Trong đệ nhất A Tăng Kỳ Kiếp, tu giữ hạnh lành (tịnh địa hành) cầu được giải thoát thanh tịnh. Đệ Nhị A Tăng Kỳ Kiếp tu tịnh Thiền Định hành. Đệ tam A Tăng Kỳ Kiếp tu tịnh trí huệ hành, trừ được chướng ngại của lửa đất. Cho nên Bồ Tát có tên là qua khỏi sự khổ, đầy đủ nơi thập địa, chứng vô ngại chẳng chướng hại. Tất cả các hạnh đều đầy đủ, chứng được A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Cho nên nơi lửa trí huệ kia được chứng thành Phật quả.

Nhập Đại Thừa Luận

(quyển thượng hết)


Quyển Hạ

Phẩm thứ hai: Hỏi và Luận về chỗ Không

Hỏi rằng:

- Ông đã nói phía trước là điều thuận để ra khỏi sự khổ lớn thì chứng được quả vi diệu, đến được cảnh giới của Bồ Tát, thật khó hiểu hết?

Đáp rằng:

- Nơi hành xứ của Bồ Tát vi diệu khó biết nơi ba A Tăng Kỳ Kiếp mới có thể thành tựu cho đến vô lượng trăm ngàn vạn ức na do tha kiếp, ở nơi phàm phu chẳng có pháp xuất thế, Như Tôn Giả Đề Bà đã nói kệ rằng:

Trong vô lượng kiếp ấy

Thường ở nơi phàm phu

Ngươi nay phải biết rằng

Tương lai cũng như thế.

Cho nên phải biết rằng chỗ hành xứ của Bồ Tát nhiều vô lượng, lại cũng khó mà chứng đắc được. Nơi chúng sanh tán loạn, được nghe thật là khó, nói được cũng là khó, huống nữa là việc tu hành. Như Tôn Giả Đề Bà đã nói kệ như sau:

Sanh gặp được pháp khó

Nghe nói lại cũng khó

Sanh tử tuy vô cùng

Nghe Pháp có giới hạn

Hỏi rằng:

   - Tôn giả trước nói về Thập Địa, nguyện nay vì tôi mà phân biệt diễn nói. Thế nào là Bồ Tát Thập Địa?

Đáp rằng:

- Thứ nhất là Hoan Hỷ địa; Thứ hai là Ly Cấu địa; Thứ ba là Minh địa; Thứ tư là Diễm địa; Thứ năm là Nan Thắng địa; Thứ sáu là Hiện Tiền địa; Thứ bảy là Thâm Viễn địa; Thứ tám là Bất động địa; Thứ chín là Thiện Huệ địa; Thứ mười là Pháp Vân địa.

Hỏi rằng:

- Thế nào là Hoan Hỷ địa?

- Ra khỏi phàm phu, được bất khả tư nghì, ra khỏi con đường của thế gian, tâm sanh Hoan Hỷ, cho nên có tên là Hoan Hỷ địa.

- Thế nào là Ly Cấu địa?

- Lìa khỏi sự phá giới cấu, nên có tên là Ly Cấu địa.

- Thế nào là Minh địa?

- Nương vào 12 môn Thiền, chứng được trí tuệ sáng suốt, nên có tên là Minh địa.

- Thế nào gọi là Diệm địa?

- Được tăng thượng giác ý, phân biệt đạo phẩm, thiêu đốt cỏ phiền não, công đức sáng rõ, cho nên gọi là Diễm địa.

- Thế nào gọi là Nan Thắng địa?

- Tu tập 10 trí, tuy điều phục phiền não nhưng chưa toàn thắng, nên có tên là Nan Thắng địa.

- Thế nào là Hiện Tiền địa?

- Hay quán thuận nghịch 12 nhân duyên, được pháp Hiện tiền, nên có tên là Hiện tiền địa.

- Thế nào là Thâm Viễn địa

- Nghĩa là thích công đức trí huệ của Phật lần lượt chẳng gián đoạn và tâm ấy thâm nhập vào Pháp tướng. Nên có tên là thâm viễn địa.

- Thế nào là Bất Động địa?

- Lìa sắc tướng kiên cố khó lay động, nên có tên là Bất Động địa.

- Thế nào là Thiện Huệ địa?

- Vào trí tuệ biện tài, giải bày tất cả âm thanh, tùy vào sự hỏi mà trong một khoảng sát na, tất cả đều có thể đáp được, cho nên có tên là Thiện Huệ địa.

- Thế nào là Pháp Vân địa?

- Hay thọ trì tất cả Phật Pháp, giống như đám mây lớn có thể dùng pháp như mưa, cho nên gọi là Pháp Vân địa.

- Đó được gọi là Bồ Tát đầy đủ 10 địa. Từ 10 địa đó Bồ Tát an trụ nơi hành xứ. Lại có thể đầy đủ tất cả trí huệ như trong Thập Địa kinh có nói rộng, cho nên có thể biết rằng Bồ Tát là những vị như vậy ở nơi Thập Địa. Cho nên có tên là Thiện Trí an trụ nơi hành xứ. Lại có tên là Thiện Trí Bồ Tát rộng khắp công đức xứ. Lại cũng có thể là Thiện Trí Như Lai vô lượng công đức rộng khắp các nơi. Nếu không phải là kẻ trí huệ như thế thì ta nay quyết định lập thệ nguyện, phải biết rằng người nầy nơi Bồ Tát Pháp và Như Lai Pháp, tất cả đều không liễu giải được.

Bồ Tát Ma Ha Tát từ chỗ bắt đầu phát tâm cho đến 10 địa thường tu bốn hạnh như trong kinh Thập Đảnh nói. Phải biết vô minh hành các hạnh Ba La Mật. Phân biệt đạo phẩm hành, thành thục chúng sanh hạnh. Đó là bốn hạnh vào nơi hai luân. Nghĩa là phước luân và trí luân. Bồ Tát ở các địa phải đủ hai loại trí quả và phước quả.

Hỏi rằng:

- Làm thế nào để thành tựu hai quả ấy?

Đáp rằng:

- Sơ địa phước quả là làm Vua nơi cõi Diêm Phù Đề. Đệ nhị địa phước quả làm Chuyển Luân Thánh Vương chủ của bốn châu thiên hạ. Đệ tam địa phước quả làm Thiên Đế Thích. Đệ tứ địa phước quả làm Diệm Ma Thiên Vương. Đệ ngũ địa phước quả làm Đẩu Suất Đa Thiên Vương. Đệ lục địa phước quả làm Hóa Lạc Thiên Vương. Đệ thất địa phước quả làm Tha Hóa Tự Tại Thiên Vương. Đệ bát địa làm Phạm Vương cuả một ngàn thế giới. Đệ cửu địa phước quả làm Phạm Vương của hai ngàn thế giới. Đệ thập địa phước quả làm Tịnh Cư Thiên Vương của ba ngàn thế giới như trong Hoa Nghiêm kinh có nói rộng. Như Lai ra đời với những kết quả và nhiếp thọ thế giới, cho nên có tên là Bồ Tát Phước Luân.

- Thế nào là Bồ Tát Trí Luân?

- Ở hàng Sơ Địa Bồ Tát chỉ trong khoảng một sát na được 300 Tam Muội, thấy được hằng trăm chư Phật biến hóa thần thông, có thể qua được trăm cõi Phật, có thể lay động cả trăm vị Phật trong thế giới. Ánh sáng chiếu khắp cả thế giới của hằng trăm vị Phật. Có thể thành tựu được hằng trăm chúng sanh. Hay biết được quá khứ 100 kiếp và vị lai 100 kiếp. Có thể biến nhập vào 100 pháp môn. Có thể hiện ra 100 thân rồi lại làm một thân. Cùng hàng trăm Bồ Tát trang nghiêm quyến thuộc. Nếu vì nguyện lực lại có thể qua khỏi điều nầy đến trăm ngàn vạn ức, vô lượng vô biên, lại chẳng tính đếm thí dụ để biết được. Với sức mạnh của thân, của ánh sáng, của thần thông, của mắt, của sự nghe, của việc làm, của sự trang nghiêm, của sự nắm giữ, của giải thoát, tạo nên nghiệp lành cho chúng sanh. Đó có tên là sơ trụ, Bồ Tát chỉ trong khoảng khắc sát na có thể thành tựu vô lượng công đức như thế.

Trụ thứ hai của Bồ Tát là được một ngàn lần Tam Muội, như thế mà nói rộng ra. Trụ thứ ba của Bồ Tát thì được mười vạn Tam Muội giống như sơ Tam Muội nói rộng ra. Trụ thứ tư của Bồ Tát là được một ức Tam Muội cũng giống như sơ trụ nói rộng ra. Trụ thứ năm Bồ Tát là được ngàn ức Tam Muội cũng giống như sơ trụ Bồ Tát nói rộng ra. Trụ thứ sáu của Bồ Tát là được vạn ức Tam Muội giống như sơ trụ nói rộng ra. Trụ thứ bảy của Bồ Tát là được ức trăm ngàn Na Do Tha Tam Muội lại như sơ trụ nói rộng ra. Trụ thứ tám của Bồ Tát là được 13 ngàn Đại Thiên Thế Giới vi trần số Tam Muội lại như sơ trụ nói rộng ra. Trụ thứ chín của Bồ Tát là được 10 thế giới Phật với trăm ngàn A Tăng Kỳ vi trần số Tam Muội cùng các công đức như sơ trụ nói rộng ra. Trụ thứ 10 của Bồ Tát được 10 thế giới Phật bất khả thuyết bất khả thuyết ức trăm ngàn Na Do Tha vi trần số Tam Muội các công đức như sơ trụ nói rộng ra. Chỉ trong khoảng sát na cho đến thấy được 10 thế giới của Phật bất khả thuyết bất khả thuyết ức trăm ngàn Na Do Tha vi trần số chư Phật như sơ trụ Bồ Tát ở nơi khoảng một sát na, thấy trăm thế giới của Phật. Cho đến thành tựu hàng trăm chúng sanh mười trụ Bồ Tát cũng lại như thế.

  Hỏi rằng:

- Như Phật đã nói trong một thế giới không có hai vị Phật xuất hiện cùng lúc vì sao mà Bồ Tát có thể thấy được 10 thế giới Phật bất khả thuyết, bất khả thuyết ức trăm ngàn Na Do Tha vi trần số chư Phật?

Đáp rằng:

- Chư Phật nói rằng ở trong một thế giới không có hai vị Phật cùng lúc vì đối với những chúng sanh độn căn, tâm hẹp chứ chẳng phải vì kẻ lợi căn có tâm rộng lớn mà nói. Như trong kinh nói: Một thế giới thì không có hai vị Chuyển Luân Thánh Vương, hai vị Phật xuất thế. Tuy nhiên ở tứ thiên hạ thì thật có rất nhiều Chuyển Luân Thánh Vương. Chư Phật ra đời cũng lại như thế.

Hỏi rằng:

- Thích Ca Mâu Ni Phật cũng có thể biến ra tất cả nước Phật, hà tất phải còn Phật khác?

Đáp rằng:

- Nếu theo lời của ngươi nói thì một vị Phật có thể biến tất cả thế giới thì chẳng cần trong quá khứ ngoài đức Phật Thích Ca Mâu Ni còn 7 vị Phật xuất thế đã thành Chánh Giác nữa, cho nên theo ta nói có nhiều Phật cũng không quá đáng.

Giả sử đức Phật Thích Ca Mâu Ni dùng thần lực có thể biến tất cả thế giới làm cho vô lượng các Bồ Tát rộng tu vạn hạnh, công đức đầy đủ, tất cả sẽ thành Phật thì chẳng có một người nào riêng lẻ, thành Chánh Giác mà bị chướng ngại bởi các Bồ Tát không cho thành Phật. Chẳng có nơi nào như thế. Như cây khô của Pháp Luân A Hàm và các kinh khác. Khi nói kinh ấy có 60 Tỳ Kheo lậu hết ý sáng đều chứng quả A La Hán. Bồ Tát cũng như thế, công hạnh đầy đủ đồng thời sẽ thành Phật. Phải biết trong mười phương có vô lượng chư Phật cùng với Kim Sa A Hàm hai bộ kinh đã nói có Phật bắt đầu thành. Có vị Phật trong hiện tại, có vị Phật đang diệt độ và nói kệ như sau:

Quá khứ vô lượng Phật

Vị Lai cũng như thế

Và bây giờ thành Phật

Đều diệt các sầu lo

Tất cả tôn trọng Pháp

Nhớ gốc đều tu hành

Vị lại cũng như vậy

Chánh Giác Pháp là thế

Ngài Đam Vô Cúc Đa (Dharmagupta)

Đảnh lễ tất cả Phật

Lậu tận chẳng còn nữa

Vô lượng thân chư Phật

Chánh Giác tối thắng tôn

Sanh ra nơi Chánh Giác

Liền được chứng Bồ Đề

Hay chuyển bánh xe Pháp

Vào vô lậu Niết Bàn

Nếu đi hay kinh hành

Như Lai nơi chỗ ngồi

Nằm như Vua Sư Tử

Ta nay đều kính lễ

Trên dưới các Thế Tôn

Ðầu mặt và bốn bên

Pháp thân cùng xá lợi

Kính lễ tháp chư Phật

Đông phương và Bắc phương

Tại thế Lưỡng Túc Tôn

Quyết tên là Nan Thắng

Phật kia nói kệ rằng

Nếu đem kệ nầy tụng

Thường tán thán Thế Tôn

Sanh Tử trong trăm kiếp

Chung chẳng đọa ác đạo.

Như Phật vì Tôn Giả Mục Liên mà nói chẳng phải ông thua thần túc với Xá Lợi Phất khi dùng thần thông lực để mang y đến cho ta, còn khó được chỗ ngồi. Giống như thế ấy chư Phật đã vì ngươi mà nói trong kinh nầy, tự làm lời nói nầy, huống là Đại Thừa, biện minh cho chư Phật vô lượng vô biên sánh với Pháp giới, giống như hư không. Trong thế giới của chư Phật tất có chư Phật. So Địa Bồ Tát thân và việc làm thanh tịnh, duy chỉ còn có kết sử nhưng chỉ lo buồn cho đến thất trụ Bồ Tát cũng chẳng gọi là đoạn hết kiết sử, lại cũng chẳng có tên là còn kết sử. Tại sao chẳng gọi là còn kết sử, chẳng đoạn kết sử chẳng làm cho kết sử tạo sự ưu não? Tên là vô kết, thích công đức của Phật, nên có tên là hữu kết. Khi đến A Tăng Kỳ Kiếp thứ hai đầy đủ rồi thì được vào bát địa. Tất cả các việc làm đầy đủ không còn phải làm gì nữa. Tất cả các kết sử đều chẳng còn và được chứng quả Bồ Đề, vào Không Tịnh Trụ xứ được Diệt Tận Định như các vị A La Hán. Như thế được chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn. Nếu không có chư Phật khuyến thỉnh thì nơi Định ấy sẽ nhập Vô Dư Niết Bàn.

Như trong kinh nói: Đắc vô sanh Pháp Nhẫn tức là lìa phiền não chứng như A La Hán. Đức Tịch Diệt Vô Dư là lìa sanh tử, chứng được 10 tự tại.

Thế nào là mười?

Đó là thọ mệnh tự tại

- Tâm được tự tại

- Mọi việc đầy đủ tự tại

- Sanh nơi tự tại

- Giải thoát tự tại

- Thần thông tự tại

- Nguyện tự tại

- Pháp tự tại

- Trí tự tại

Được tất cả tự tại như thế, lãnh tu như ý túc, hàng phục tứ ma.

Thế nào là bốn?

- Ấm Ma

- Phiền não Ma

- Tử Ma

- Thiên Ma

Vì chúng sanh mà tất cả đều một vị được Vô Duyên Từ, giống như cây thuốc Như Ý, tùy theo sở nguyện của chúng sanh mà làm cho được thành tựu.

Hỏi rằng:

- Thế nào là Bồ Tát tự thân làm việc mà có thể làm cho chúng sanh tùy theo nguyện ấy mà có thể chứng đắc?

Đáp rằng:

- Bồ Tát dùng tâm từ làm thể, dụ như thấy độc mà có thể giết người, chúng sanh thấy Bồ Tát làm liền được lợi ích.

Hỏi rằng:

- Bát trụ Bồ Tát đã hết các kết sử. Vì sao mà tối hậu thân Bồ Tát còn sanh La Hầu La?

Đáp rằng:

- Phải nói như vầy. Nếu thân sau cùng của Bồ Tát mà thật sự vì lòng ham muốn thì cho đến Phật cũng không thể được, huống nữa là La Hầu La.

Hỏi rằng:

- Vì sao lại không Phật?

Đáp rằng:

- Nếu đầy đủ giới nhưng không Ba La Mật, mà nếu không Ba La Mật tức chẳng có Ba La Mật. Như Phật đã nói: Nếu không có giới tức không có Thí; Không có Thí tức không có Nhẫn; Không có Nhẫn tức chẳng có Tinh Tấn; Không có Tinh Tấn tức không có Thiền Định; Không có Thiền Định thì không có Trí Tuệ. Không có Trí Tuệ không có tất cả công đức. Chẳng có tất cả công đức thì không có Phật. Không có Phật thì không có La Hầu La. Nhà ngươi tại sao nghi ngờ khi sanh La Hầu La thì còn kết hay không kết sử nơi Bát Trụ của Bồ Tát không còn phiền não nữa? Đã bỏ bốn Thiên Hạ với cương vị là một Chuyển Luân Thánh Vương làm cho chúng sanh có tâm xa lìa. Dụ như Tỳ Kheo Bà Lưu Chi nói kệ Phật Bổn Hạnh như sau:

Một thân là nhiều thân

Làm rồi thật vi thắng

Chẳng thật lại chẳng hư

Các các làm vui vẻ

Phóng túng sanh ý muốn

Mạnh thêm sự cuồng loạn

Hiện cùng làm việc dục

Dẫn đến nơi bờ kia

Thần Trí hay Thiêu mất

Dục giới các kiết sử

Dục kết nhiều cuồng si

Hay thị hiện tâm nầy.

Bồ Tát xem dục và biết như huyễn mộng, cho nên có thể làm cho ý thay đổi. Với lòng Đại Bi Bồ Tát làm các huyễn thuật mà biến hóa tâm nầy.

Hỏi rằng:

- Vì sao phải tạo ra những huyễn thuật nầy để mê hoặc chúng sanh?

Đáp rằng:

- Bồ Tát thường dùng Tứ Nhiếp Pháp làm phương tiện để giáo hóa tất cả chúng sanh cùng đồng sự lợi ích để phá tan những kết sử như Sí Nhiên Bồ Tát trong Bổn Sự Nhân Duyên vì muốn tâm điên loạn đảm nhận thay thế cho tử thi rồi chạy đi kêu ca múa hát. Bồ Tát vì phương tiện nên cũng giống như vậy. Vì trừ người nữ kia đốt cháy sự ham muốn lo sầu hoạn nạn mà hiện ra đồng sự. Chẳng có nghĩa là nói dối. Cùng với tất cả các Bồ Tát dùng phương tiện đồng sự. Tất cả đều không phải là vọng ngữ mà làm huyễn thuật cho thế gian có được ít lợi ích. Bồ Tát chứng được vô lượng giải thoát cũng giống như cửa huyễn Tam Muội. Tất cả cũng đều vì có thể làm lợi ích lớn sự thành tựu của chúng sanh không thể khác được.

Hỏi rằng:

- La Hầu La là sự ứng hóa. Điều đó đúng hay không?

Đáp rằng:

- Hai đều chẳng qua. Đó là thân của Bồ Tát là thân của chư Thiên như trong kinh Bổn Khởi nói: Phật bảo A Nan rằng Như Lai vì chúng sanh mà đã xuất hiện nơi đời. Chẳng thể dùng thân của Trời mà chuyển Pháp Luân được. Vì sao vậy? Vì muốn làm cho chúng sanh đừng giải đãi vậy. Phật mà dùng thân chư Thiên để thành Chánh Giác thì chẳng có Ta, Phàm phu mà có thể thành được, nên từ nơi cõi chư Thiên đã vì lân mẫn chúng sanh mà thị hiện nơi thế gian nầy, có cha mẹ vợ con quyến thuộc. Cho nên vì sự huyễn hóa mà có La Hầu La cũng lại như thế. Nếu là người thật thì lại chẳng thể vượt qua mà Bồ Tát dùng phương tiện để được bất tư nghì giải thoát. Trụ nơi đại địa để thành tựu chúng sanh. Hỗ tương nhau để làm cha mẹ, huynh đệ, vợ con.

Hỏi rằng:

- La Hầu La có phải là Bồ Tát không?

Đáp rằng:

- Chẳng phải La Hầu La riêng là Bồ Tát, ở nơi thành Ca Tỳ La Vệ là một đồng tử của dòng họ Thích. A Nan, Nan Đà, Đề Bà Đạt Đa, A Nậu Lâu Đa v.v... tất cả đều là những người có lực lớn chẳng thoái chuyển Bồ Tát. Như Bà La Số Chí nơi kinh Bổn Hạnh có nói kệ rằng:

Hoặc là Đại Trượng Phu

Hoặc là Phật Hóa Sanh

Đề Bà Đạt Đa ấy

Cùng Tiên là đồng bạn

Hoặc lại làm cha con

Thường ở nơi quyến thuộc

Bồ Tát có lực lớn

Quyền biến hay vì nầy

Cùng Phật và người khác

Bồ Tát với Đại Tiên

A Nan, Nan Đà thảy

Na Luật, Thích Ma Nam

Bột Đà cùng Ác Sa

Ưu Ba Ác Ly thảy

Làm cha con quyến thuộc

Hoặc đều vây chung quanh

Hỏi rằng:

- Đề Bà Đạt Đa trong 500 thân thường cùng Bồ Tát làm những sự oán hận. Nhưng ở đây tại sao lại gọi là Bồ Tát?

Đáp rằng

- Đề Bà Đạt Đa chẳng oán Phật. Vì sao vậy? Nếu Đề Ba Đạt Đa oán Phật thì Bồ Tát tu hạnh lành mà Đề Bà Đạt Đa thường tạo các việc ác. Như vậy vì sao đời đời được cùng với Bồ Tát cùng nâng đỡ cho nhau là nghĩa nầy vậy. Đề Bà Đạt Đa không oán Bồ Tát. Giống như hai người cùng ra đi. Một người đi về hướng đông, một người đi về hướng tây đi càng ngày càng xa, rồi xa rời nhau. Vì sao mà làm bạn có thể giúp nhau được. Nếu Đề Bà Đạt Đa có tâm oán giận Bồ Tát thì Như Lai Thế Tôn có thể vượt qua được điều nầy.

Hỏi rằng:

- Qua khỏi điều gì vậy?

Đáp rằng:

- Không có kẻ đó thì Phật không phải là người nhứt thiết trí lại cũng chẳng có thần lực tức là ngu si, tức chẳng có thể được ủng hộ chúng sanh, chẳng phải là thân Kim Cang mà Như Lai liền ứng ra Hữu Dư Nghiệp chẳng thể đoạn kết.

Vì sao biết Phật là kẻ chẳng phải Nhứt Thiết Trí khi Như Lai ở núi Kỳ Xà Quật mà Đề Bà Đạt Đa lăn đá để hại mà chẳng thể biết. Cho nên phải biết, Như Lai chẳng phải là bậc Nhứt Thiết Trí. Như thế thì sao gọi là chẳng có thần lực mà để cho Đề Bà Đạt Đa mang cái chày vồ để đánh hại mà chẳng thể chống chế lại. Cho nên ở đây phải biết rằng chẳng có thần lực.

- Sao gọi là ngu si?

Thấy bị hại nhưng mà chẳng biết chạy, cho nên biết rằng ngu si vậy?

- Vì sao mà chẳng thể ủng hộ chúng sanh?

Đề Bà Đạt Đa làm tội ngũ nghịch, biết mà chẳng cứu độ, cho nên phải biết chẳng thể ủng hộ chúng sanh.

- Sao gọi là chẳng phải thân Kim Cang?

- Chuyển Luân Thánh Vương vì ít phước báo mà chẳng oán hại. Hà huống là Như Lai. Chuyển Luân Thánh Vương đã giữ đá lại làm cho máu nơi thân không chảy. Cho nên phải biết Như Lai không phải là thân Kim Cang.

- Vì sao gọi là có Dư Tác Nghiệp chẳng thể diệt hết?

- Vì đánh người khác, cho nên phải biết Như Lai Dư Nghiệp chưa hết, cho nên muốn làm cho Phật không thể vượt qua được. Như Lai liền muốn tận diệt oán thù nên đã dùng thiện xảo phương tiện muốn làm cho chúng sanh khởi lên tâm xa rời việc ác nên hiện ra việc ngược lại, rồi bị đọa vào địa ngục là muốn hiển thị cho thấy Nghiệp Báo không thể hoại được. Lại cũng muốn vì sự đọa địa ngục ấy mà trở về với Như Lai và thỉnh cầu Như Lai cứu hộ. Lại nữa vì người đời sau giàu có khi vào nơi Phật Pháp nếu muốn dùng thế lực dùng cây gậy đánh đập người thì làm cho chúng sanh ấy phải nhớ nghĩ rằng ngay cả thân của Như Lai mà còn bị hại thì huống hồ gì ta là kẻ phàm phu phước đức mỏng. Lời có người là nghịch tội, nhưng mà Bồ Tát vì thiện quyền phương tiện mà tội nghịch như thế tuy có tên là năm tội, nhưng thật ra chỉ có hai. Đó là phá tăng và hại Phật. Đó là những nghiệp lực mà thế gian chẳng có.

Đề Bà Đạt Đa thật ra là một Đại Tâm Già La Bồ Tát vì chúng sanh mà khởi lên tội nghịch, hiện làm hai nghiệp đọa vào địa ngục, Bồ Tát Ma Ha Tát tùy theo công việc mà làm như thế. Vì hóa độ chúng sanh, cho đến việc hiện ra giống như nghiệp của Ma làm ra Ma Ba Tuần Tam Ngọc Nữ hiển hiện. Như Lai tướng vô dục lại mưa bằng đao kiếm. Tất cả những giả tướng đó hiển hiện Như Lai chẳng có tướng sân si lại cũng chẳng tham ái cùng tướng ngu si.

Hỏi rằng:

- Thân Ma đến có ý muốn phá hoại Như Lai là bậc có tâm chánh giác. Vậy thì nói rằng muốn hiển thị Như Lai chẳng tham sân là sao?

Đáp rằng:

- Nếu Như Lai ra khỏi Ma giới cũng giống như Ma mà Đại Phạm Thiên Vương cũng ra khỏi Ma giới. Tại sao chẳng phải Bồ Tát? Đó là con đường Diệu Quả, không thể cướp đoạt được. Lại cũng chẳng cùng kẻ kia, cho nên không thể hoại, nói lời của Ma lo loạn. Ở đây có hai nghĩa. Thế nào là hai?

- Một là thật có ác nghiệp. Vì Ma mà lo lắng. Hai là vì tiến đến sự mới mẻ, làm cho tâm được kiên cố, làm cho Ma phải bị bức bách thì mới thật là Bồ Tát, là Chơn Thiện tri thức nên mới hiện ra ma mà đến để làm tăng thêm công đức. Giống như con đường nơi đó sợ hãi, tức qua khỏi hiểm nạn. Giống như bò tót chỉ cần dây mũi nhỏ cũng có thể điều phục được.

Hỏi rằng:

- Thân Ma cũng có Bồ Tát sao?

Đáp rằng:

- Chẳng phải chỉ thế giới nầy có Thiên Ma Bồ Tát mà 10 phương thế giới đều có Ma Vương, đa phần là Bồ Tát, như trong kinh Duy Ma Cật có nói: Mười phương thế giới làm Ma Vương, đa phần trụ ở nơi bất khả tư nghì giải thoát của Bồ Tát, hay xin tay chân đầu mắt tủy não. Nói như thế là tất cả các trụ ở bất khả tư nghì Giải Thoát Bồ Tát. Vì sao vậy? Nếu không phải là Bồ Tát thì chưa chịu được việc nầy. Giống như Hương Tượng lê bước đạp lên không phải nơi con lừa, chỉ có các Bồ Tát mới có thể làm như thế. Như kia nói rộng ra cái ý nghĩa như thế phải nên biết. Bồ Tát hay biết tất cả chúng sanh có nhiều việc làm khác nhau, mà chỉ muốn hiển bày công đức trí huệ phương tiện lực mà thôi. Hoặc hiện là mọi thứ, xin đủ thứ như thế.

Hỏi rằng:

- Nếu La Hầu La quả thật là Bồ Tát. Vậy tại sao bảo là Thanh Văn A La Hán?

Đáp rằng:

- Bồ Tát cũng có tên là Thanh Văn lại cũng có tên là A La Hán. Vì sao vậy? Vì làm cho chúng sanh nghe được A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề nên gọi là Thanh Văn. Ngay cả Trời, Người, A Tu La cũng như thế nữa, Bồ Tát Ma Ha Tát vì muốn giáo hóa chúng sanh nên hiện làm Thanh Văn, A La Hán.

Hỏi rằng:

- Ngoài Thanh Văn ra, tất cả là Bồ Tát?

Đáp rằng:

- Ngoài Thanh Văn ra, tất cả là Bồ Tát như trong kinh Pháp Hoa nói về Ngài Xá Lợi Phất và 500 vị đệ tử tất cả là Bồ Tát, họ hay thường làm Phật. Tất cả các Thanh Văn đều là những vị A Bệ Bạt Trí Bồ Tát, như trong kinh Bất Thối Chuyển Pháp Luân có nói rộng như thế phải nên biết. Bồ Tát đều hiện thân Thanh Văn.

Hỏi rằng:

- Tất cả Thanh Văn có thể thành Phật chăng?

Đáp rằng:

- Thanh Văn thành Phật cũng không ra khỏi điều nầy.

Hỏi rằng:

- Sao gọi là chẳng ra khỏi?

Đáp rằng:

- Đầu tiên phải đoạn trừ kết sử nghiệp chướng, làm cho các địa được thanh tịnh, hướng về tất cả trí, cho nên gọi là không ra khỏi là thế.

Hỏi rằng:

- Thiêu diệt kết sử như đốt cháy mầm mống của lúa thóc thì sao chứng được Phật?

Đáp rằng:

- Như ta đã nói với ông, đoạn diệt kiết sử, chẳng thể thành Phật. Ông cùng tất cả chúng sanh đều có những phiền não mà muốn làm Phật thì ông phải biết rằng người nhiều phiền não như thế không thể là Phật được, mà phải lìa phiền não mới có thể làm Phật được. Thiêu trừ phiền não kiết sử như thiêu trừ mầm mống của lúa thóc cũng chẳng thành Phật lại cũng chẳng có nơi chốn. Ta không muốn làm cho đầy đủ những loại phiền não sanh ra nơi mầm mống của Phật Pháp. Ông si mê chẳng có Trí Tuệ, điên đảo hiểu như vậy. Nghĩa là lấy phiền não làm hạt giống của Phật Pháp. A La Hán sơ đoạn phiền não sau đó mới trừ đi tri chướng, tu Bồ Tát Đạo, được thành Chánh Giác. Ở nơi A La Hán có ít nguời đoạn tri chướng. Nếu có người chẳng đoạn, cũng có người chứng được Vô Tránh Tam Muội. Lại có kẻ chẳng chứng được Vô Tránh Tam Muội, cũng có kẻ chứng được năm loại thần thông. Lại có kẻ chẳng được năm loại thần thông, cũng có kẻ chứng tứ biện tài. Lại chẳng được tứ biện tài, được thiền ra vào tự tại, cũng chỉ được thiền ra vào tự tại.

Hỏi rằng:

- Thế nào gọi là tri chướng?

Đáp rằng:

- Ra khỏi vô minh của thế gian, tên là tri chướng. Giống như trong Sa La Lưu Chi Bổn Hạnh có nói kệ rằng:

Vô Minh có hai loại

Thế gian, Xuất thế gian

Thế gian, Vô Minh hành

Hiền Thánh đã xa lìa

Ngu si chẳng giải rõ

Chẳng thể như Thất trí

Dừng nơi tâm thức nầy

Pháp giới các nơi hiểm

Chưa thể cùng gốc gác

Thế nào quyết định ra

Pháp thân chứng Niết Bàn

Chỉ Phật mới rõ biết

Phật Bà Già Bà lại có thể biết thể tánh trí huệ và dùng đại bi để đoạn trừ kết sử. Cho nên có tên là Thanh Văn hay đoạn tri chướng. Thanh Văn có hai loại. Một là khuyên tu thiền định cho những kẻ độn căn. Hai là hồi hướng Bồ Đề hay đoạn trừ sở tri chướng cho những kẻ lợi căn, vui nơi Thiền Định. Như thế trong kinh thường nói: Giống như thủy tinh chẳng thể thành Ma Ni bảo châu được. Thanh Văn tu thiền cũng lại như thế, chẳng thể chứng quả Bồ Đề được. Đây là cảnh giới của chư Phật, ta chẳng biết được. Một thừa hay nhiều thừa. Nay chỉ lược nói nghĩa nầy để làm sáng tỏ lời Phật dạy, chẳng thể sai khác, ta chưa rõ hết. Cũng như Trưởng Giả ra đi thật xa rồi hiện hóa thành, như trong kinh nầy nói chỉ có một thừa, thật chẳng có ba. Phật cũng tự nói chỉ có một Phật thừa, chẳng phải hai ba.

Hỏi rằng:

- Như Lai đã làm như thế nào để đoạn kết sử?

Đáp rằng:

- Trong kinh nói: Phật bảo A Nan nên siêng tu Tứ Như Ý Túc. Nếu ở đời một kiếp hoặc ở đời nhiều kiếp cho đến cuối cùng của sanh tử mà tất cả các kinh đều nói giống nhau. Nếu lời nói của ngươi không còn phiền não nữa ta cũng lại như thế. Nếu có kẻ thân ái tin tưởng quy y nơi ta, nay phải vì ngươi mà nói.

Hỏi rằng:

- Thế nào là Trụ Thọ?

Đáp rằng:

- A La Hán chẳng phiền não lại ở nơi Bát địa giống như Bồ Tát hay tu Như Ý Túc, hay tùy ý mà ở đời cho đến cuối cùng của Sanh Tử. La Hầu La, Tân Đầu Lô v.v... kết trụ ở đời. Vì thân nầy trụ ở đời làm cho thân trụ hữu dư. Nếu mà có thân thật để trụ ở đời, tức không phải nghĩa nầy. Nếu là biến hóa thân trụ thọ ở nhiều kiếp, tức có nơi chốn, như trong Tăng Kỳ nói về mắt xanh của Như Lai v.v... vì muốn giáo hóa Bồ Tát mà tại trời Quang Âm cùng với các chúng Thanh Văn vô lượng trăm ngàn ức Na Do Tha kiếp trụ. Giống như nơi cõi trời kia Thanh Văn trụ thọ nhiều kiếp. Phải nên biết thế giới nầy cũng có Thanh Văn như thế mà ở. Thanh Văn không còn kết sử lại hay ở như thế. Phải biết rằng nơi Bát Địa Bồ Tát cũng lại như thế. Ở nơi cuối cùng của sanh tử.

Hỏi rằng:

- Phật bảo Di Lặc Bồ Tát Nhất Sanh Bổ Xứ. Với nhân duyên nầy phải biết Bồ Tát còn sanh ư? Sao còn gọi là Vô Sanh?

Đáp rằng:

- Nói là có sanh đó là pháp hí luận. Bồ Tát Ma Ha Tát vì lực phương tiện mà thị hiện thọ sanh. Đó không phải là điều thật. Như Duy Ma Cật nói rằng Di Lặc Bồ Tát vô sanh khả đắc. Vì sao mà Như Lai thọ ký cho một lần sanh rồi chứng được A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề? Vì quá khứ sanh, hiện tại sanh, vị lai sanh. Nếu mà do quá khứ sanh, thì quá khứ sanh rồi lại diệt. Vị lai sanh thì vị lai chưa đến. Hiện tại sanh lại chẳng có nơi trụ, cứ như thế mà quán quá khứ, vị lai, hiện tại sanh tất cả đều chẳng thể được. Cho nên ta nói Bát Địa Bồ Tát trong hai A Tăng Kỳ Kiếp hết tất cả các việc làm, ở nơi chẳng làm giống như A La Hán đoạn hết kiết sử, mà nói kệ rằng:

Từ mới phát ý đến

Phương tiện làm các địa

Chẳng đến địa thứ tám

Tự Tại hết các Kết.

Phẩm thứ ba: Thuận tu các hành

Hỏi rằng:

- Như đã nói Bát Địa Bồ Tát hay đoạn tất cả phiền não và kiết sử thì thành Phật như thế nào? và được nhứt thiết trí?

Đáp rằng:

- Bồ Tát Ma Ha Tát trừ tất cả các ái nơi thân, tịch diệt kiết sử, lìa sanh tử du hí tự tại, Kim Cang lực sĩ thường theo hỗ trợ, giúp đỡ làm cho được thân Kim Cang thanh tịnh, như trong kinh Như Lai tạng có nói rộng, được 4 trí tuệ biện tài, được vào đệ cửu địa thanh tịnh. Ở nơi hai ngàn Phạm Vương mà được lực tự tại, liền hay thuyết pháp, làm Đại Pháp Sư hay vào nơi tạng bí mật của Như Lai để đến thập địa thanh tịnh, được vô lượng vô biên mà chú phương thuật, hay làm cho tất cả tự tại vô ngại, làm cho Ma Ê Thủ La Thiên Tử, lại cũng làm nơi nương tựa cho tất cả thế gian.

Hỏi rằng:

- Nói rằng Ma Ê Thủ La có giống như Ma Ê Thủ La của thế gian hay khác?

Đáp rằng:

- Đó là Tịnh Cư Tự Tại, chẳng phải thế gian tự tại, Ngươi nói Ma Ê Thủ La tên ấy tuy giống nhưng mà người thì không giống. Nơi Tịnh Cư Ma Ê Thủ La có Tỳ Xá Xà Ma Ê Thủ La là vị Tịnh Cư cũng như Bồ Tát gần gũi Phật Địa, giống như La Sát chứng ở nơi một sát na mười phương thế giới vi trần pháp số tất đều có thể biết rõ, có thể dùng miệng để thổi 10 phương thế giới đều bị chấn động. Lại nữa một thân có thể biến ra tất cả nước Phật. Cũng giống như Hoàng Thái Tử lúc mới nhận chức là do Nghiệp lực vậy. Hoa sen lớn quý tự nhiên hóa sanh, thọ địa vị của tất cả chủng trí, ngồi trên hoa sen quý như Vua ngồi, có vô lượng Bồ Tát cũng ngồi trên hoa sen như thế vây chung quanh. Sau khi ngồi trên hoa sen báu rồi thì mười phương thế giới chư Phật phóng ánh sáng lớn chiếu khắp. Bồ Tát nầy thọ địa vị quán đảnh như Trưởng Tử của Chuyển Luân Thánh Vương lúc thọ tức từ nơi chỗ ngồi kia đoạn trừ tri cảnh vi tế chướng được Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội. Tùng Lăng Nghiêm Tam Muội, Pháp Hoa Tam Muội, được tất cả Thật Pháp Quyết Định Tam Muội, Bất Khả Tư Nghì Giải Thoát Tam Muội, Thậm Thâm Vô Úy Hải Thủy Tam Muội. Vi Diệu Thanh Tịnh Ly Cấu Tam Muội. Các pháp bình đẳng chẳng nói Tam Muội, cho đến Kim Cang Tam Muội. Khi được tất cả Tam Muội rồi tức vô chướng ngại. Tất cả các hạnh đều đầy đủ, biết tất cả các tri chướng, thành A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Khi thành Chánh Giác rồi, được 10 lực của Như Lai, được bốn phép trí tuệ biện tài và 19 pháp bất cộng, hay biến hóa đến tất cả các nước Phật, được tất cả các pháp thân không hoại của chư Phật, đầy đủ tất cả các pháp giới. Tất cả thân khẩu ý nghiệp tướng, tất cả đều tiêu diệt, chứng được vô vi tịch diệt xứ, chứng Như Lai địa.

Lại có hai nhân duyên. Một là vì tất cả thế gian mà hiển hiện sắc thân, tức do bổn nguyện chứ không phải do nghiệp lực làm.

Hai là vì chúng sanh phân biệt tưởng tượng mà có sai khác. Vì thế cho nên mới tạo ra nhiều hình tướng khác nhau để đáp ứng, cho nên có tên là Như Lai Vô Ngại sắc thân.

Hỏi rằng:

- Như trong kinh nói: Từ khi mới xuất gia hay ở nơi Phật Pháp, nên gọi là Pháp Thân?

Đáp rằng:

- Việc nầy không phải như vậy. Ngươi nếu nói là Pháp Thân thì tuy có pháp mà không có Phật, tức chẳng có ba nơi quay về. Nếu muốn làm cho đầy đủ ba nơi nương tựa thì đâu phải là sơ địa và cuối là thập địa, tại Tịnh Cư Thiên thành Chánh Giác, tự tại ứng hóa nên có tên là Pháp Thân đầy đủ ba bảo.

Hỏi rằng:          

- Như thế tên gọi là Pháp thân thì hư cuống chẳng thật. Vì sao vậy? Như Lai đầy đủ công đức bỏ nơi trời Đẩu Suất giáng xuống Diêm Phù Đề, sanh nơi Vương Cung là thân sau cùng, chứng thành Bồ Đề. Như vậy tại sao nói là nơi cõi trời Tịnh Cư mới thành Phật đạo và có tên là Pháp Thân?

Đáp rằng:

- Không phải nơi Diêm Phù Đề thì không thành Phật. Công đức nơi Thập Địa chẳng phải muốn nơi Pháp giới, hà huống là Diêm Phù Đề được thành Chánh Giác. Ta trước chẳng nói là Bát Địa Bồ Tát tận diệt tất cả các lậu, thì có thể làm Phạm Vương một ngàn thế giới. Cửu Trụ Bồ Tát thì làm Phạm Vương của hai ngàn thế giới. Thập Trụ Bồ Tát thì làm Phạm Vương của ba ngàn Đại Thiên thế giới. Đây là do thệ nguyện lực vậy, mà sanh nơi cõi trời Tịnh Cư ở nơi chốn ấy. Còn nơi Diêm Phù Đề có thân thật để thành Phật tức chẳng phải nghĩa nầy là ý nghĩa đó. Phải biết Tịnh Cư Thiên thành Phật không phải là nơi Diêm Phù Đề.

Hỏi rằng:

- Giả sử như sanh nơi Diêm Phù Đề mà được thành Phật, lại có thể nơi tam thiên đại thiên thế giới được Tự Tại chăng?

Đáp rằng:

- Việc nầy chẳng thể. Vì sao vậy? Vì do phước đức quả báo mà quyết định nơi chốn vậy. Ngươi không biết sao mà còn nói rằng: Nếu Thích Ca Mâu Ni Phật sanh nơi Diêm Phù Đề thì được Tự Tại nơi ba ngàn đại thiên thế giới. Ở tất cả mười phương thế giới lại được Tự Tại.  

Hỏi rằng:

- Từ đây làm cho mười phương tất cả đều được Tự Tại. Có được như thế không?

Đáp rằng:

- Như đó chỉ là một thế giới Phật, còn 10 phương chư Phật tức chẳng có nơi để nương tựa. Lại nữa như trong kinh nói: Tất cả nghĩa là Thích Ca Như Lai ở nơi ba ngàn đại thiên thế giới còn không nói huống nữa tới 10 phương thế giới. Nếu nói như ngươi, tức chẳng nói có nhân quả. Như trong kinh nói: Chư Phật xuất thế quốc độ chúng sanh đều là do y báo, tất cả đều có giới hạn. Cho nên phải biết tại Tịnh Cư Thiên thành ư Chánh Giác, lãnh thổ là ba ngàn đại thiên thế giới, chẳng phải là nơi Diêm Phù Đề vậy.

Hỏi rằng:

- Nếu Phật chẳng phải nơi Diêm Phù Đề mà thành chánh giác thì tứ tháp của Như Lai chẳng có lợi ích gì chăng?

Đáp rằng:

- Ta trước đây chẳng nói sao! Nếu mà do nhân duyên kết sử thọ thân thì tức chẳng thành đạo vì không có Thi La Ba La Mật (Giới). Nếu không có Thi La (Giới) Ba La Mật tức chẳng có những  Ba La Mật khác. Nếu không có Phật thì không có bốn tháp.

Hỏi rằng:

- Như Ngài đã nói tất cả đều chẳng có ý nghĩa gì? Vì sao vậy? Trong khi đó tất cả Luận sư của các bộ đều nói là tất cả chư Phật đều từ Diêm Phù Đề nầy mà xuất hiện, như Đức Thích Ca sanh nơi vườn Lâm Tỳ Ni, tại thành Già Gia ngồi nơi đạo tràng rồi thành Chánh Giác. Nơi Ba La Nại sơ chuyển pháp luân. Nơi Câu Thi La thành nhập Bát Niết Bàn. Như thế mà ngài nói chẳng có gì chăng?

Đáp rằng:

- Việc ấy chẳng phải vậy.

Ý ta chẳng phải muốn nói là các đức Như Lai từ nơi Thủ Đà Hội (Đẩu Suất) thiên mà thành Chánh Giác. Nếu từ nơi trời Đẩu Suất mà thành chánh giác tức chẳng nơi vương cung, lại cũng chẳng đi xuất gia, lại chẳng thành đạo. Vì sao thế? Nếu như Như Lai chẳng có thân tộc, lại chẳng có nơi sanh, lại chẳng có nơi diệt, như trong kinh Pháp Hoa và kinh Trí Chiếu và Như Lai chẳng sanh chẳng diệt. Ca Diếp đã tự nói rằng: Ta nương nơi Nhứt Thiết Chủng Trí để xuất gia; phải hiểu nghĩa nầy như thế. Tức là thị hiện. Như Lai chẳng sanh nên nơi Kim Quan đã đưa hai chân ra và ngài Ca Diếp đến đảnh lễ, tức chứng minh cho biết rằng Như Lai chẳng diệt. Cho nên phải biết rằng Pháp thân của Như Lai bất sanh bất diệt.

Hỏi rằng:

- Vậy thì Như Lai chẳng có một chút sanh diệt gì sao?

Đáp rằng:

Ta nay y vào chánh lý  để nói thì Như Lai thật chẳng sanh diệt, chẳng phải là điều vọng ngữ. Vì Như Lai chỉ thị hiện phương tiện sanh diệt mà thôi. Đó là bất khả tư nghì để giáo hóa chúng sanh, như Phật đã nói nơi kinh Tư Lại: Ta từ nơi Ta Bà thế giới nếu hiện ra thân thật thì chẳng có một người nào chịu nhận sự giáo hóa của ta. Cho nên ở nơi nầy đầy đủ ý nghĩa thâm mật, nên phải hiển thị, đều vì những chúng sanh hạ căn, trí tuệ cạn cợt, chẳng thể hiểu được các pháp sâu xa. Cho nên phải phương tiện mà hiện ra như thế và có bài kệ tụng rằng:

Đại thừa thật sâu rộng

Hiển hiện dễ nói đuợc

Đến trí tâm thấp kém

Nghe được lại sanh nghi

Chơn chánh là Phật Tử

Phải biết đây sâu dày

Làm cho nói chân thật

Chỉ vì cầu Phật vậy

Thành tựu nơi Nhị Thừa

Nhơn Thiên các lợi căn

Thọ Phước từ thừa nầy

Có tên là Đại Thừa

Đại Thừa hay sanh ra

Đường Thanh Văn Duyên Giác

Nếu mà kẻ Đại Thừa

Thế nào được các Quả

Giống như các chữ gốc

Lìa gốc chẳng có chữ

Nếu mà lìa Đại Thừa

Lại chẳng còn thừa nào

Kẻ độn căn thiếu trí

Chẳng tin nơi Đại Thừa

Lại cũng chẳng thể tin

Tức tất cả các thừa

Tự lợi mà gồm cả

Có tên Vô Thượng Thừa

Cho nên phải thân cận

Cho đến thành Phật đạo.

Ý nghĩa nầy sâu xa khó thể hiển thị, chẳng phải nơi nơi mà vì người nói được.

Hỏi rằng:

- Tuy chẳng phải tất cả nơi có thể nói nhưng có thể nói rằng: Nếu phát tâm lớn tăng trưởng trí huệ, thì phải biết người nầy đầy đủ phân biệt như trước đã nói?

Đáp rằng:

- Có bốn loại bất tư nghì

Đó là Phật bất tư nghì; Thiền định bất tư nghì; Long thần bất tư nghì và Nghiệp báo bất tư nghì. Phật bất tư nghì là muốn hiển hiện pháp. Tuy có lợi căn chúng sanh từ Lô Giá Na Phật đến để nói các Pháp tất cả đều kham thọ.

Hỏi rằng:

- Thế nào là được từ vị Phật kia mà làm theo thứ lớp cho đến bây giờ?

Đáp rằng:

- Như Lai pháp thân giáo hóa chúng sanh có bốn phương tiện. Thế nào là bốn?

Một là Đan na Ba La Mật (Bố Thí) ở nơi đất nầy. Hai là Bố Thí nhiều so với nơi kia. Ba là A Đan Đa Ba La nầy kia và bốn là A Đan Đa La nầy kia (ghi chú trong Đại Tạng 4 bốn thâm diệu nầy không thể dịch từ nguyên bản chữ Phạn được).

Hỏi rằng:

- Nếu mà Pháp thân của Như Lai là thường thì khi thị tịch (diệt) vô tướng vô vi. Tại sao lại còn có tướng tùy thuận?

Đáp rằng:

- Là do nguyện lực vậy. Ví dụ như nhập diệt tận định Tỳ Kheo, tuy vô tâm tưởng, nhưng còn tâm cần yếu, nên khi đánh kiền chùy nghe tiếng dội vào tai. Tùy theo âm thanh phát ra đó mà từ định dậy. Bồ Tát lại cũng như thế. Phát Bồ Đề Tâm, bổn thệ nguyện lực như bảo ta được diệt tận Pháp thân thì lúc ấy tâm thức tuy vô tướng vô tác nhưng vì giáo hóa chúng sanh, cho nên Như Lai vô tướng pháp thân liền có thể ứng biến tùy thuận có hữu tướng, như ba ngàn đại thiên thế giới trăm ức cõi trời Đẩu Suất, trăm ức cõi trời Diệm Ma. Tất cả cùng lúc thị hiện sắc thân. Khi hiện sắc thân rồi hoặc lại xả bỏ thọ mạng, hoặc hiện lại bào thai; Hoặc hiện ra so sánh, hoặc làm Thích, Phạm, Ma, Tứ Thiên Vương v.v... tiếp cận tả hữu. Hoặc hiện ra đi bảy bước, hoặc hiện ra trống rỗng của Sư Tử. Hoặc lại tự nói trên trời, giữa loài người là tối tôn tối thượng. Đây là thân sau cùng đoạn lìa sanh, lão, bệnh, tử. Hoặc hiện đồng tử, hoặc hiện vào cung Vua. Hoặc hiện làm thân xuất gia, hoặc hiện thân tu khổ hạnh. Hoặc hiện thân ngồi nơi đạo tràng. Hoặc hiện thân hàng Ma, hoặc hiện sơ thành Phật. Hoặc hiện giác ngộ chúng sanh, hoặc hiện chưa thành Phật, Hoặc hiện Thích Phạm thỉnh chuyển Pháp Luân. Hoặc hiện ra chúng sanh thành thục, hay chúng sanh chẳng thành thục. Hoặc hiện độ thoát kẻ thành thục rồi; Hoặc hiện đang nhập Niết Bàn; Hoặc hiện đã nhập Niết Bàn rồi; Hoặc hiện nơi Diêm Phù Đề toàn thân xá lợi rồi phân thân xá lợi. Hoặc hiện đến từ cõi trời Đâu Suất cho đến hiện độ thoát thành thục chúng sanh. Tùy theo đó mà thấy tất cả để hiện hình; Hoặc lại có nhiều sự thị hiện khác nhau; Hoặc lại tạm thời thị hiện; như thế mới gọi là những ý nghĩa chơn thật. Cuối cùng chưa đến ba A Tăng Kỳ Kiếp tu hành các Ba La Mật mà thành. Bốn mươi, năm mươi năm quả ấy liền diệt tận phải không?

Nói như thế nào mà giống như Tu Di chỉ có La Sơn mà quả như rau cải vi trần ra nhỏ như thế. Nếu nói như thế thì thật là điên đảo. Như trong giáo pháp của ta lại có thể làm cho nhỏ như hạt cải mà quả lại như Tu Di Trử La Đại Sơn. Ý nghĩa nầy hợp lại cho nên gọi là nhơn của Ba A Tăng Kỳ mà được tất cả sanh tử quả báo. Ứng hóa chúng sanh, pháp thân thường tồn tại. Như Pháp Hoa Thọ Lượng đã nói rõ. Lại như Văn Thù Sư Lợi nơi phẩm Thọ Ký có nói kẻ kia vì sao tên là Đa Bảo Đa La Ni Tử Trí? Như Phật đã nói: Khi ta làm Phật sự rồi, dùng lời nói với các Tỳ Kheo là đã đến lúc ta vào Niết Bàn. Như thế mười phương chư Phật cũng lại như vậy. Vì sự giáo hóa chúng sanh mà nói lời như thế, kỳ thật ra thì chẳng diệt độ, mà tất cả các nước đều do thần thông biến hóa cũng giống như pháp giới hư không vậy. Cho nên phải biết Pháp thân thì thường trụ, sắc thân thì ứng hóa vô thường. Nếu dùng sắc thân để quán Phật thì chẳng thấy được Như Lai, như Phật đã nói kệ:

Nếu dùng sắc thấy Phật

Âm thanh để cầu Phật

Kẻ ấy hành tà đạo

Không thể thấy được Phật

Nghĩa là như vậy. Nếu dùng Pháp thân để quán Phật thì mới có thể thấy Như Lai. Như Liên Hoa Tỳ Kheo Ni muốn thấy Phật bằng sắc thân, nên liền nghĩ rằng tôi là kẻ thấy Phật đầu tiên, nhưng Phật bảo Ngươi không phải là kẻ thấy ta đầu tiên, chỉ có Tu Bồ Đề biết được pháp thân, nên ông ta đã gặp ta trước rồi. Cho nên phải biết ở nơi Thập Trụ gọi là thấy Pháp Thân. Nếu lễ Pháp Thân tức là lễ tất cả sắc thân như Phật đã nói nơi kinh Pháp Hoa. Nếu có người xưng danh cúng dường Quan Thế Âm Bồ Tát Pháp Thân thì có thể cúng dường 62 ức chư Phật sắc thân. Vì sao vậy?

Vì ở nơi Thập Địa, đã chứng được Pháp Thân nên có tên là Bồ Tát. Lại có tên là Phật cho nên phải biết Pháp Thân là căn bản, vô lượng sắc thân đều nương nơi Pháp Thân mà hiện ra thân để giáo hóa, cho nên Phật liền giải nói 62 ức hằng hà sa sắc thân là vậy, chẳng bằng cúng dường một Pháp Thân.

Như Phật đã nói trong kinh Bảo Tích rằng: Như thế Ca Diếp, như người ở thế gian khi trăng mới vừa lên cung kính lễ bái cho đến trăng tròn rồi thì không còn cung kính nữa. Vì sao vậy? Từ đầu đến cuối như thế Ca Diếp. Nếu có thiện nam tử nào muốn cung kính ta trước phải nên kính lễ Bồ Tát. Vì sao vậy? Vì Phật đều từ Bồ Tát địa mà đầy đủ vậy. Cho đến trải qua sanh tử biến hóa sắc tướng chỉ vì lợi ích chúng sanh. Đây là nghĩa chính vậy. Ở kia đã được Phật quả rồi, như Phật thường nói, chẳng phải là Điều Ngự vậy.

Hỏi rằng:

- Nếu chưa vào Bồ Tát địa mà thọ cụ túc giới Tỳ Kheo thì có được lễ không?

Đáp rằng:

- Được lễ. Vì sơ phát tâm Bồ Tát hơn tất cả những Thanh Văn, Bích Chi Phật vậy. Như Tôn Giả La Hầu La nói kệ rằng:

Nếu phát tâm sau

Tất sanh Giác Ngộ

Cho nên tất cả

Đều phải cung kính

Hỏi rằng:

- Thế nào là thọ Cụ Túc giới Tỳ Kheo mà được lễ, còn chưa đủ Cụ Túc giới thì chưa vào chánh vị Bồ Tát sao?

Đáp rằng:

- Nên lễ Bồ Tát. Vì sao vậy? Vì Thanh Văn giới cần phải thọ đủ rồi mới bỏ thọ mạng. Còn Bồ Tát phát tâm thành tựu Tự Tánh Đệ Nhất Nghĩa Giới, Giải Thoát Giới, cho nên Thanh Văn tuy thọ Cụ Túc giới cũng nên lễ so với vị chưa nhập Chánh Vị Bồ Tát. Vì thể tánh của Bồ Tát nầy là chẳng giết hại, xa rời dao, trượng, cho đến trùng kiến thảy đều chẳng có tâm sát hại, có tâm xấu hổ. Như thế nói rộng ra - Thể tánh chẳng ăn trộm cho đến Thể tánh chẳng tà kiến như giới Ba La Đề Mộc Xoa. Khi mạng chung thì bỏ, hết đường thì bỏ. Bồ Tát Đại Sĩ tánh giới thành tựu cho đến đạo tràng, chẳng hết thì không bỏ. Là ở nghĩa nầy vậy. Tuy thọ đầy đủ giới; nên phải tác lễ.

Hỏi rằng:

- Kẻ thành tựu Thể Tánh của giới cho đến việc có thể cúng dường mà chẳng lễ bái có được chăng?

Đáp rằng:

- Không được. Vì có công đức của giới vậy, lại nên lễ bái, há chỉ việc cúng dường. Ngươi nói chẳng thọ giới Bồ Tát chẳng nên hướng lễ. Ta nay lại phải vì ngươi mà nói rộng ra. Cho đến việc chẳng cần bạch tứ Yết Ma mà thọ Cụ Túc giới. Như Tỳ Ni Tỳ Bà Sa nói có mười loại thọ giới cụ túc, còn Bồ Tát giới thì có nhiều loại thọ giới khác nhau. Thế nào là mười?

   1. Như Phật bảo: Thiện Lai Tỳ Kheo, tự nhiên đã được thọ Cụ Túc Giới, như ngài Ma Ha Ca Diếp.

   2. Tự Thệ Nhân Duyên Thọ Giới Cụ Túc.

   3. Như Kiều Trần Như nghe Tứ Diệu Đế đã thọ đầy đủ giới Cụ Túc.

   4. Như Ba Xà Ba Đề Tỳ Kheo Ni thọ Bát Kỉnh Pháp đã đầy đủ Cụ Túc giới.

   5. Như Đạt Ma Đề Na Tỳ Kheo Ni khiến được thọ Cụ Túc giới.

   6. Như Tu Đà Ni Da Sa Di luận Nghĩa thọ đầy đủ Cụ Túc giới.

   7. Như Gia Xá Tỳ Kheo v.v... Thiện Lai thọ đầy đủ Cụ Túc Giới.

   8. Như Bạt Đà La Ba Lăng Già Tam Quy Y thọ đủ Cụ Túc.

   9. Nơi biên địa chỉ có năm vị kể cả Tôn Chứng cũng đầy đủ giới Cụ Túc.

   10. Ở trung tâm một quốc gia, có bạch tứ Yết Ma, (đủ tam sư thất chứng) thọ đầy đủ Cụ Túc Giới.

   Như thế các Bồ Tát thường thọ đầy đủ Cụ Túc Giới chưa hề lìa bỏ.

Hỏi rằng:

- Nếu mặc Pháp Phục Bồ Tát có thể lễ Bạch Y Bồ Tát không?

Đáp rằng:

- Bồ Tát phương tiện đầy đủ ngũ thông, tùy thuận chúng sanh tất cả hình tướng mà làm giống y phục lại tùy theo tất cả chúng sanh mà vào các nơi giống như những loại ấy thì các đại Bồ Tát tùy theo nghiệp báo của chúng sanh mà biến hóa thọ thân như Tôn Giả Câu Ma La Đa nói kệ như sau:

Các nơi đều biến hóa

Chỉ trừ Tịnh Cư Thiên

Tùy Nghiệp chuyển đủ loại

Chẳng nơi không thọ sanh

Cho nên phải biết các Bồ Tát thường vì lợi ích mà tùy theo đó để thọ sanh hóa đạo. Vì phương tiện mà hóa làm chúng sanh, chẳng phải tùy theo phiền não nghiệp báo sai khiến. Như Tôn Giả Đề Bà nói kệ như sau:

Hoặc hiện làm Sư truởng

Hoặc lại làm đệ tử

Có rất nhiều phương tiện

Vì giáo hóa Phàm Ngu

Tự tại nơi các cõi

Thường vì chúng cung kính

Nếu kẻ không cung kính

Tức Nghiệp Kiêu Mạn lớn

Những Bồ Tát tuy hình phục thế gian nhưng nên kính lễ, cũng giống như Như Lai vì giáo hóa chúng sanh mà làm những việc cang cường, lại như hóa thành Vua Phất Ca La, làm hình lão Tỳ Kheo, làm ông thầy lở lói, lại hiện ra nhiều hình ảnh của người tại gia. Tuy có nhiều loại hình tướng khác nhau nhu thế; nhưng tất cả đều nên cung kính lễ bái. Tuy đồng y phục thế gian nhưng hãy nên kính lễ như Phật nói kệ rằng:                         

Nghiêm sức các hành mà tịch diệt

Điều phục quyết định tu vạn hạnh

Vì các chúng sanh bỏ dao gậy

Có tên Sa Môn, Bà La Môn 

Cho nên giữa nơi các Bồ Tát không nên chấp vào hình trạng tướng mạo mà sanh tâm phân biệt. Bồ Tát vì tam giới chúng sanh làm việc lớn lao xa lìa nhà cửa, hoặc hóa làm Phật, hoặc hóa làm trời người, cho đến hóa làm các loài súc sanh, tất cả đều nên lễ bái những Bồ Tát ấy, công đức thật vi diệu. Chẳng nên có tâm lễ chỉ ở nơi tướng mạo như người thế gian kia. Chỉ lễ hình tượng mà xa rời lễ bái Pháp Thân. Như hình bằng vàng, đá, bùn đất, gỗ, mà tôn trọng. Cho nên Bồ Tát vì những phương tiện tạo nên nội ngoại hình khác nhau. Chỉ vì lợi ích chúng sanh. Nên lễ bái chẳng hạn. Cho nên Như Lai chẳng vào Niết Bàn, chẳng phải chẳng Niết Bàn, như La Hầu La nói kệ rằng:                          

Sanh Tử khổ lâu dài

Phải nên vào Niết Bàn

Vì lực từ bi lớn

Ở lâu mà chẳng lìa  

Cho nên phải biết tùy theo sanh tử lâu dài mà Pháp Thân thường trụ, sắc thân ứng hiện, giống như đèn tắt là Pháp Thân của Bồ Tát hơn là Sắc Thân của Phật. Những Sắc Thân của Phật ở nơi dục giới mà thành Chánh Giác. Còn Pháp Thân Bồ Tát ở nơi yên ổn. Bồ Tát Pháp Thân ở nơi Nhứt Thiết Chủng Trí của Chư Phật. Sắc Thân chư Phật vì giáo hóa chúng sanh làm cho Thích, Phạm, Tứ Thiên Vương v.v... đều cung kính cho nên Phật nói cúng duờng 62 ức hằng hà sa Sắc Thân chư Phật chẳng bằng cúng dường một Pháp Thân Bồ Tát là ý nghĩa nầy vậy. Như trong Nhứt Thiết Phước Đức Tam Muội Kinh có nói: Vui thay Chánh Pháp, cuối cùng chẳng nói Phật nhập Niết Bàn như trong kinh Pháp Hoa có nói bài kệ rằng:                         

Thường tại núi Linh Thứu

Cùng với các trụ xứ

Phàm Ngu người Vô Trí

Tuy có nhưng chẳng thấy

Như trong kinh ào (?) nhứt thiết thế giới đại trang nghiêm tam muội nói: Bảo các Thiện Nam Tử rằng các ngươi có thấy Pháp Thân của Như Lai chăng?

- Bạch đức Thế Tôn đã thấy. Nơi lỗ chân lông thấy ức trăm ngàn na do tha chư Phật thế giới. Thân Khẩu Nghiệp đều biến đầy tất cả thế giới chư Phật. Lại như trong tạng Mật, Như Lai đã nói: Trì Viễn Cận Bồ Tát xem trên đảnh của Như Lai có đến vô lượng thế giới chư Phật như thế mà chẳng thể thấy, giống như Mục Liên tìm âm thanh thuyết pháp của Như Lai cho đến thế giới của Dã Ma cũng không thể hết được âm thanh của Phật. Như trong kinh Thủ Lăng Nghiêm có nói:

Khi Như Lai ở nơi cung Vua hiện vô lượng thế giới của sơ sanh, chuyển pháp luân, nhập Niết Bàn, như trong kinh Mật tạng nói: Pháp Thân của Như Lai trụ ở thân của tất cả chúng sanh, hiện ra trong ngoài cũng giống như mặt ngoài của Ma Ni Châu chẳng bị hư hoại cũng lại như thế. Cho nên phải biết Pháp Thân của Như Lai biến khắp tất cả nơi chúng sanh như Phật đã nói cho đến cây khô đốt lửa lại phải chẳng vào nơi sanh hại, huống nữa là các loại cho nên chẳng thể xưng lượng chúng sanh trừ các đức Như Lai, không thể biết được như Duy Ma Cật đã nói: Tất cả Phật độ đều là nghiêm tịnh. Ta Bà thế giới nầy cũng là như thế. Nơi tâm lớn của chúng sanh có Như Lai tàng chứa nơi đó. Đức Thích Ca Như Lai vì phương tiện tốt làm cho tất cả các đệ tử Thanh Văn, hiện nơi ngũ trược ác thế với các ngoại đạo. Tuy là khác một cho đến người đó tất cả nơi thân cũng là Pháp Thân. Tức từ Bồ Tát sanh ra phương tiện tốt. Tất cả đều hiển phát con đường Đại Thừa. Cho nên phải viết Bồ Tát nơi ba ngàn đại thiên thế giới vì giáo hóa chúng sanh nên có nhiều loại không giống nhau. Nếu là chúng sanh lợi căn thì tán thán Đại Thừa mà chẳng quở trách ngờ vực làm cho Tâm dễ được giải thoát. Nếu là chúng sanh độn căn thì mắc vào rừng tà kiến và võng lưới ngu si, khi được thấy chư Phật và Bồ Tát rồi liền mất các tà kiến ấy, cho đến vào Đại Thừa. Cho nên Đại Thừa là nơi ở của các Thừa, là thừa tối vi căn bản. Nếu có chúng sanh thọ trì tin hiểu Đại Thừa nầy, phải biết người nầy Nghiệp Báo Phiền Não tất cả được tiêu trừ, như Thế Tôn đã vì A Xà Thế mà giải rõ các nghi hối, như trong kinh nói tướng quang minh ấy. Hãy đừng nói lời ấy. Vì sao vậy? Ngươi ở nơi thế giới của Phật, mười kiếp tu các thiền định chẳng như ở nơi Ta Bà thế giới nầy có thể chỉ trong một bữa ăn tu hành tâm từ bi. Vì sao vậy? Vì ở thế giới ấy đoạn trừ phiền não chẳng thể được như ở thế giới Ta Bà này. Trong một bữa ăn tu tập thiện nghiệp như cùng Ngài Văn Thù Sư Lợi thọ ký đã nói nơi các kinh khác, tất cả đều có phân biệt.

Nếu có chúng sanh nào hủy báng Chánh Pháp, như trong kinh Bát Nhã và kinh Pháp Hoa nói rộng thì kẻ phỉ báng kia bị tội nghịch. Nếu ai thọ trì tin hiểu Đại Thừa cho đến tội ngũ vô gián v.v... cũng đều diệt hết, như Phật nói kệ rằng:                          

Đã làm những ác nghiệp

Hay sâu tự hối quá

Kính tin Pháp Đại Thừa

Dứt trừ các gốc tội

Phật nói như thế đó là chân thật Pháp tướng, Tín tâm lần lượt tiếp tục tăng trưởng đều thành Không Tịch. Kẻ trước đây tạo ác liền được tiêu diệt, như Thế Tôn đã nói trong kinh Giải Trừ Nguy Hối vậy.

Đại Vương hãy quan sát nơi tâm của Ngài, đâu là tâm giết cha, đó là tâm quá khứ, tâm vị lai hay là tâm hiện tại? Nếu là tâm quá khứ thì quá khứ tâm chẳng còn. Nếu mà tâm ấy đã mất đi rồi tức chẳng có nơi nào nữa, lại cũng chẳng có nơi để tồn tại. Nếu tâm vị lai thì tâm vị lai chưa đến. Còn tâm hiện tại thì hiện tại tâm chẳng trụ giống như huyễn hóa, chẳng xanh, vàng, đỏ, trắng, tím, pha lê. Thể tánh của nó thuần tịnh, chẳng có tướng và chẳng có thể thấy được. Như vậy đó nói rộng ra tức được lợi lạc, cho nên phải biết Đại Thừa tức là Thừa căn bản, như trong kinh Di Lặc trang nghiêm đã nói. Việc phát tâm Bồ Đề, giải nói tâm Bồ Đề, trụ nơi tâm Bồ Đề, được lợi ích lớn, chẳng đọa vào đường ác. Giải thoát tâm Bồ Đề, Tịnh Bồ Đề Tâm. Từ đất nầy đến đất khác dần dần tăng trưởng ích lợi mà được Pháp Thân hay hiện thần thông như Lô Xá Na Phật liền biến hóa mà nói kệ rằng:                          

Nếu được thân chẳng dơ

Màu sắc có rất nhiều

Hoặc ở nơi Diêm Phù

Hoặc ở trời Đẩu Suất

Từ nơi đỉnh Phật sáng

Cho đến cuối sanh tử

Biết lúc hoặc chẳng biết

Phải biết định ấy hóa

Chẳng có hình và sắc

Lại cũng chẳng vô tướng

Tích do nơi làm gốc

Giống như trăng trong nước

Thân khẩu ý đều kín

Tức thị chẳng giống Pháp

Tất cả các thế giới

Sắc thân hiện giải thoát

Giữ đời cùng trời nguời

Muốn xem thấy đỉnh Phật

Vô biên bất tư nghì

Qua khỏi ức thế giới

Mục Liên cùng đệ tử

Chí tâm tìm tiếng Phật

Trải qua trăm ngàn cõi

Tiếng ấy chẳng giới hạn

Pháp Thân công đức ấy

Tất cả không thể biết

Chẳng thể loại khác nhau

Ngôn từ giả nói thế

Nghe thấy các Phật lực

Chẳng ta là cảnh giới

Niệm Báo đến Phật Ân

Nơi đảnh tin phụng hành

Nay ta đang nói Pháp

Hồi thí các chúng sanh

Tất diệt, Phiền não hết

Đuợc chứng đạo Vô Thuợng.

Nhập Đại Thừa Luận
(hết quyển hạ)

 Dịch xong ngày 21 tháng 12 năm 2003

tại Tu Viện Đa Bảo, Úc Đại Lợi.

Nguồn: http://www.tangthuphathoc.net/

ý kiến bạn đọc
Các tin khác
Đánh giá bài viết
1 Lượt

Pháp Bảo Mới

Cùng tác giả
Từ khóa
© Copyright 2014 Phòng Website Phật Pháp Ứng Dụng - Tu Viện Tường Vân. All Rights Reserved.
Địa chỉ : E4/6 – Nguyễn Hữu Trí – TT. Tân Túc – H.Bình Chánh – TP. HCM
Điện thoại : Văn Phòng Tu Viện Tường Vân (028)62689409 - Phòng Website (028)66758929