>> Phật Học

Tháng 12
03
Trang chủ >> Phật Học >>

Tịnh Độ Tông

Khuyên người niệm Phật - Tập 1 (p4)

Cỡ chữ:
Tác giả: Sưu Tầm
Đăng ngày 03 - 12 - 2013 - Lúc 11 : 13 : 18 (GMT+7)
Tuổi trẻ mà khuyên họ buông xả thì khó lắm, vì tình trần còn đang lừng lẫy, tương lai còn đầy tham vọng thì làm sao buông xả được.

11 -Lời khuyên song thân

Thưa cha má,

Tuổi trẻ mà khuyên họ buông xả thì khó lắm, vì tình trần còn đang lừng lẫy, tương lai còn đầy tham vọng thì làm sao buông xả được. Còn người khi tuổi đã về chiều, nhìn lại cuộc đời mới thấy như trò huyễn hóa, nên dễ đi về với đạo, dễ ngộ đạo hơn tuổi trẻ. Thế nhưng, trong gia đình mình mấy đứa em đã biến chuyển làm con mừng lắm. Em Thứ đã phát tâm niệm Phật, em An cũng đã bắt đầu phát tâm tu tập. Đây là hiện tượng cảm ứng rất tốt.

Riêng gia đình cô Sáu có mấy người ăn chay trường, tu hành khá tốt. Cháu Ngọc-Hiền, con của Ngọc đi xuất gia, đây là duyên lành khó kiếm và đáng quý. Huy-Hồng cũng đã phát tâm tu hành rất tinh tấn. Hôm trước ở đây có sư cô Diệu-Anh về Việt-Nam, con kêu tụi nó tới gặp Sư Cô, khi qua lại Úc, Sư Cô cho con biết là tất cả đều tinh tấn niệm Phật, An lúc nào cũng thầm niệm Phật, Hồng thì quyết tâm cầu về Tây-phương. Nghe nói như vậy, con sung sướng không còn gì hơn. Tất cả đều là duyên lành thiện căn phúc đức từ nhiều kiếp. Trong gia đình mình, nếu ai đọc được những thư này mà trực nhận thấy được con đường đi thì không còn gì quý hơn. Các em tuổi trẻ mà còn ngộ đạo như vậy huống chi là cha má, còn chần chờ so đo gì nữa? Cha má hãy nhanh chóng buông xuống tất cả để lo phần tu tịnh. Sự phát tâm tu hành của cha má là cái gương cho tất cả con cháu, và là chuyện gấp rút cho chính cha với má, cần thiết như cứu lửa cháy đầu. Nếu còn trì hoãn, còn chần chờ thì mạng sẽ tiêu, lúc đó không ai có thể bươi tro nặn lại mình được đâu cha má ạ.

Hôm nay con xin tiếp tục khuyên cha má buông xảû. Cha má ơi! Lý thường con người luôn ưu tư về cuộc sống, càng gần ngày mãn phần càng lo âu, có người còn sợ sệt chạy đầu này đầu nọ để cầu cho sống thọ hơn. Cầu đâu được? Mà để làm chi? Họ chỉ tạo thêm khổ ải cuộc đời! Đây chỉ là thường tình của người thế gian, của người trần tục, của những người không hiểu đạo lý giải thoát của Phật. Còn người đã ngộ Phật pháp thì họ an nhiên tự tại, họ tùy thuận theo tự nhiên, họ coi sự ra đi như một lần vứt bỏ chiếc áo cũ. Trong một lần giảng Pháp nào đó, Ngài Tịnh-Không nói rằng người khác thì cần tới vài phút chứ còn Ngài, nếu duyên độ sanh không còn, chỉ cần một giây thôi Ngài vãng sanh liền. Lời này chính con không nghe nhưng những người Hoa đã nghe và nói lại, có nghĩa là Ngài đã đạt đến chỗ sanh tử tự tại.

Có lần thuyết pháp, Thầy Ngộ-Thông nói, “Nếu bây giờ mà đức Phật Di-Đà hú một tiếng, tôi nhảy phóc lên tay Ngài đi liền, không cần chờ một giây để chào biệt bà con”. Còn Ngọc, có lần nàng nói, “Nếu niệm Phật mà được Phật cho vãng sanh em đi theo Phật liền, không đợi anh đâu”. Còn con, giả sử nếu Phật A-di-đà thọ ký cho con hai năm nữa vãng sanh, con sẽ năn nỉ Ngài cho con một năm thôi, một tháng thôi, hoặc ngắn hơn nữa càng tốt. Thưa cha má, đó là tình thực chứ không phải đùa vui đâu. “Dương-gian là cảnh, Tịnh-độ là quê. Sống thì ta ở, Vãng sanh ta về”, có gì đâu mà lo với lắng!

Đây không phải là sự bi quan yếm thế, mà chính là tinh thần TỰ-TẠI của người niệm Phật. TỰ-TẠI để vui sống, TỰ-TẠI trước hoàn cảnh, TỰ-TẠI ngay trong giờ phút lâm chung. Có như vậy mới đáp ứng đúng theo yêu cầu của Phật: “Thị nhơn chung thời, tâm bất điên đảo, tức đắc vãng sanh A-di-đà Phật Cực-lạc quốc độ”, (Kinh A-di-đà). Có người tu hành cả đời mà ngày ra đi vẫn còn đau khổ mê muội, mù mù mịt mịt, chẳng biết đi về đâu, trong khi nếu mình được Phật thọ ký thì dại gì chần chờ, do dự, dại gì còn muốn lăn lộn thêm trong cảnh trần lao này làm chi cho khổ! Đường đời đầy cay nghiệt ta lỡ sơ ý một chút cũng có thể sa hố, thì bá thiên vạn kiếp dễ gì gặp lại Phật đây!?

Một trong những chất độc nguy hiểm nhất của chúng sanh là LÒNG THAM. Sự lo âu cũng chính vì lòng tham mà sinh ra. Tham tiền tài, tham danh sắc, tham sự nghiệp, tham luyến ái, tham hưởng thụ... đưa đến tham sống sợ chết. Tất cả những cái tham đó quay tâm hồn con người điên đảo đảo điên, tối tăm mù mịt. Càng lo càng sợ, càng bị dồn vào ngõ cụt, bị khốn đốn không lối thoát, làm cho cuộc sống đã khổ lại càng thêm khổ, có ích gì đâu!? Đã biết như vậy thì sao còn khổ tâm bám lấy nó!...

Hãy quyết tâm buông xả đi cha má, vì có cố tình gìn giữ thì cũng không giữ được, sau cùng rồi cũng vẫn là con số “0” to tướng, chớ chẳng có lấy được cái gì cả ở cõi trần này đâu. BUÔNG-XẢ cũng đi đến ngày tàn cuộc, BÁM-LẤY cũng đi đến ngày tàn cuộc, cũng chỉ sống bấy nhiêu năm đó thôi, nhưng buông xả mình sẽ được tất cả; không buông xả mình sẽ mất tất cả. Được gì? Được Vãng sanh về với Phật. Mất gì? Mất huệ mạng trong ba đường ác. Hồi giờ mình mang lên nhiều quá rồi, bây giờ trực tỉnh được sự thật của chân tướng thì phải nghỉ ngơi, phải biết liệng gánh nặng trên vai xuống đất để mình bước đi thong dong “Tự-Tại”.

TỰ-TẠI! Theo sau “Phóng-Hạ” là “Tự-Tại”. Hễ buông-xả thì tự-tại. Nếu cha má nghe lời con, mạnh dạn buông xuống, tất cả mọi duyên đều không cần nữa. Nên hư mặc kệ, sự đời bất cầu, bất cần. Con cái ai lo được thì lo, không lo thì thôi!... thì sự TỰ-TẠI tức khắc sẽ đến ngay với cha má. An nhiên, nhàn hạ để sống những tháng ngày còn lại thật ý nghĩa, và sau cùng cha má hưởng được một phước báu vĩ đại mà hàng tỉ người trên thế gian này không mơ tới được, đó là vãng sanh Tây-phương Cực-lạc, vĩnh viễn xa lìa sanh tử luân hồi. Hết báo thân này nếu mình về sống trong thế giới của Phật, mình sẽ là một vị Bồ-tát, ngày ngày thần thông biến hóa thiên bá ức hóa thân, đi khắp mười phương để cúng dường chư Phật. Có sự vui thú khoái lạc nào sánh bằng với cảnh Tây-phương Cực-lạc? Có cái pháp tu nào có khả năng đưa một chúng sanh từ địa vị phàm phu tội lỗi nhảy thẳng lên đến bậc Bất-Thối như pháp niệm Phật đâu! Được vậy là nhờ sự gia trì của Phật A-di-đà, ngoài ra không có một năng lực nào mơ tới sự cứu độ quý hóa này cả.

Thế nhưng, nếu tinh thần không vững, chỉ cần lưỡng lự một tích tắc là có thể mất phần. Cha má nên nhớ kỹ điều này, ta có về với Phật được hay không cũng chỉ xảy ra trong tích tắc thời gian mà thôi. Quyết đi thì ý chí phải kiên định, tâm thái phải tự tại, tinh thần phải trong sáng, phải niệm được câu “A-di-đà Phật” trước giờ phút lâm chung thì “A-di-đà Phật dữ chư Thánh chúng hiện tại kỳ tiền” tiếp dẫn về Tây-phương. Lưỡng lự thì tâm hồn lo lắng, tinh thần hoảng hốt, ý chí chao đảo, tâm trí rối bời, Phật quang tan biến, oan gia trái chủ trùng trùng điệp điệp bủa vây, thì không thể nào thoát khỏi cảnh giới xấu ác.

Trước giờ mình chưa hiểu hoặc hiểu sai đạo Phật, mình làm lung tung. Nay đã hiểu đuợc sự vi diệu thù thắng thì hãy ráng hết sức bám lấy cơ hội giải thoát này. Trăm ngàn vạn kiếp khó mong gặp lại chứ không phải dễ dàng đâu cha má ạ! Đừng bao giờ hy vọng rằng đời sau mình sẽ tu tiếp, đừng nghĩ bây giờ tu “tà-tà” để hưởng phước thế gian rồi trước sau cũng sẽ tới! Đừng coi chuyện này là đơn giản! Đừng nên tu theo kiểu Nhân-Thiên, cầu mong trở thành “Hiền-Nhân Quân-Tử” hết đời này qua đời khác để chờ dự Hội-Long-Hoa của đức Phật Di-Lặc. Năm sáu trăm triệu năm nữa không phải là thời gian cho mình thử thách bừa bãi đâu! Trong kinh Phật dạy rõ ràng, một thần thức trải qua một cuộc cách ấm là tất cả công phu tu hành dang dở đều bị xoá sạch. Qua một đời khác phải làm lại từ đầu. Thiện căn phước đức dù có nhiều đi nữa, nhưng không gặp cơ duyên cũng đành tan tành theo mây khói!

Cha má cứ nhìn quanh thì thấy ngay hiện tượng này, những người giàu có, thế lực, thông minh... đều là những người kiếp trước có tu hành, có tạo phước. Đời này được hưởng phước có mấy ai chịu tu hành. Sẵn có tiền ngày ngày nhậu nhẹt, trác táng, phóng đãng… họ đang tạo ác nghiệp trùng trùng, thì mình cũng đoán được tương lai họ sẽ đi về đâu? Tu hành mà chỉ cầu cho được làm người thì ngày gặp Phật có lẽ là chuyện xa vời vô thực! Một khi chuyển thân cách ấm thì thần thức mê loạn mù mịt, tất cả chuyện dĩ vãng tiền kiếp quên hết. Thời mạt pháp, cái cơ duyên gặp chánh pháp phiêu phỏng như hoa ưu đàm, bên cạnh đó cơ hội tháp tùng theo tà thuyết ngoại đạo thì tràng giang đại hải. Đó là chưa kể đến chuyện oan gia, trái chủ, nghiệp chướng, ma oán chúng không bao giờ để mình yên thân thọ hưởng ở ba đường thiện lành (Trời-Người-A tu la) đâu cha má ạ.

Cho nên có được gặp Phật, về với Phật hay không nằm ngay trong tự tâm thanh tịnh, ở lòng chí thành chí thiết, ở ý chí kiên cường dũng mãnh, quyết định dứt khoát theo Phật không lay chuyển của mỗi chúng ta ngay bây giờ, trong đời này, chứ không ở đâu xa vời cả. Quyết đi thì buông xuống mọi ơn nghĩa ràng buộc của thế giới Ta-bà này đi, né tránh càng nhiều càng tốt những liên hệ thế gian, thì tự nhiên ta thấy ngay sự tự-tại. Tự-tại ngay trong cuộc sống, tự-tại trong mọi hoàn cảnh, tự-tại về với Phật. Người tu hành chân chính chắc chắn sẽ hưởng được cái phước báu này. Người tu hành không chính pháp thường bị những triết lý hoa mỹ phủ dụ hay đi tìm sự hưởng lạc tạm bợ thế gian, hoặc bị chóa mắt bởi những tư tưởng tự tôn, làm tăng thêm tham-sân-si-mạn, tạo thêm cái nhân đọa lạc khổ đau về sau.

Tu hành, nhất định ta phải vạch mục đích cho đúng, nhất định phải biết xa lìa cái danh hão huyền của trần tục, phải tránh những triết lý phiêu lưu vô chứng cớ, phải biết bỏ những quyền lợi nhỏ nhặt thế gian, phải đoạn trừ những sự cầu tài cầu lộc, cầu giàu, cầu phước, v.v... vì những lời cầu nguyện đó chính là sự tự nguyện ở lại trong sinh tử luân hồi, tự nguyện chịu đọa lạc mất phần giải thoát đó.

Hẳn nhiên, con cũng hiểu được rằng hồi giờ cha má sống với láng giềng, ân nghĩa, nợ nần, tình cảm... quá nhiều, khó mà dứt đoạn được. Tuy nhiên, không dứt được mình cũng phải dứt, vì đây là điều kiện rất quan trọng. Dứt đâu có nghĩa là trốn chạy, cách ly họ đâu, mà là đừng cầu vọng, tham đắm đến nữa. Hình thức sinh hoạt thì bình thường nhưng trong tâm mình phải buông xả. Nhứt thiết duy tâm tạo. Tâm đã buông xả thì tự nhiên hoàn cảnh sinh hoạt cũng phải chuyển biến theo. Tất cả đều do tâm mình định đoạt, mình quyết tâm thì tâm mình chuyển đổi hoàn cảnh, mình không quyết tâm thì hoàn cảnh nó quay mình như chong chóng, không bao giờ thoát ly được đâu. Hàng trăm, ngàn, vạn, người đã chuyển được rồi chứ không phải mình là người đầu tiên thì không có lý do đổ thừa cho hoàn cảnh được.

Thưa cha má, phàm con người thường cứ chạy theo thói tục, dựa theo tập lệ, thói quen mà sống. Hễ “ông bà làm sao thì ta làm vậy”. Nhưng xét cho kỹ thì ông bà ta có liễu ngộ được sanh tử luân hồi chưa? Đây là vấn đề rất nghiêm chỉnh, là sự tự tỉnh thức của mỗi cá nhân để tìm phương giải thoát. Cha má cứ xét coi, có phải là hầu hết những hành động của con người đều nhằm gây thêm ác nghiệp, đều mang ý nghĩa muốn chui vào chỗ tăm tối chứ không muốn tìm nơi sáng sủa để đi phải không! Ví dụ như đi chùa lạy Phật thì để cầu trúng số, cúng dường để xin phước, làm thịt heo, bò đem tới các miễu đình cúng để cầu buôn mau bán đắt, đem thịt cá cúng vái ông bà, đốt giấy vàng bạc để gởi xuống âm phủ cho người thân, tích lũy âm tiền trong cõi u minh, nguyện gặp người thân yêu nơi “suối vàng”, v.v... tất cả những việc làm đó có phải là những sự tạo ác không? Có phải là cầu cho ông bà xuống âm phủ mà sống không? Có phải là mình cũng tự nguyện xin chui vào địa ngục để thọ khổ đau không?

Trong một thư nào trước con có nói về lời nguyện. Lời nguyện vô cùng quan trọng, nó có sức mạnh rất lớn có thể đánh bạt nghiệp chướng khác để dẫn dắt mình đi theo cái nguyện lực đó. Vì cái sai lầm của tư tưởng và lối sống, vô tình con người cuối cùng thường bị lạc vào chỗ tăm tối nhất trong lục đạo pháp giới mà không hay, để chịu đựng suốt những chuỗi kiếp số lao đao lận đận trong sinh-tử luân-hồi, trong ba đường ác đạo khổ đau như theo kinh Phật nói “nan đắc giải thoát, thống bất khả ngôn”! Khi không biết ta cứ tự nhiên dựa theo thế tục mà mặc tình tạo nghiệp! Đây là lối sống theo hiện tượng, hoàn toàn dựa theo sự thịnh suy thế gian. Thấy giàu thì tham, thấy mạnh thì theo, thấy hơn thì đắc ý, thấy thắng thì cao ngạo, thấy giỏi thì ỷ thị... Tất cả những hiện tượng đó tạo ra biết bao nhiêu sự tranh đấu, ganh tị, thị phi, tạo biết bao nhiêu nghiệp ác trên đời. Cho nên càng sống càng tạo nghiệp chướng, nghiệp chướng càng cao càng nhiều nhân xấu, chắc chắn phải chịu quả xấu. Biết bao giờ mới trả cho hết nợ đây? Hiểu được vậy mới thấy sợ hãi mà mau mau tỉnh ngộ đường tu hành cha má ạ.

Có nhiều nơi chủ trương chuyên cầu xin được bổ báo phước lành. Cầu ở đâu? Quỷ Thần. Phước lành gì? Phước hữu lậu. Một lòng nguyện theo Quỷ Thần, một dạ xin ở lại làm người hưởng phước, tự nguyện tiếp tục lăn lộn trong lục đạo khổ não, chấp nhận sanh tử triền miên để tạo thêm nghiệp báo, thì làm sao mà giải thoát được đây!? Có rất nhiều cách tu hành chủ trương như vậy, bây giờ cha má đã nghe được Phật pháp rồi thì nghĩ sao về chuyện này!? Tu đó có giải thoát được không? Sao bằng ta cứ y cứ theo đại nguyện của Phật A-di-đà một lòng một dạ niệm “A-di-đà Phật”, nguyện sanh về Thế-Giới Cực-lạc với Phật, để một đời thành Phật có hơn không?...

Thưa cha má, chúng ta sống phải biết giựt mình tỉnh ngộ, vạch rõ cái gì đúng, cái gì sai. Phải mạnh dạn làm cách mạng tự thân để giải thoát cho chính mình. Chỉ có mình mới cứu được đời mình. Mình chịu quay đầu thì được cứu. Mình cứ bướng bỉnh lao theo thế tục thì mặc dù Phật có vạn đức vạn năng cũng cứu không được. Cuộc đời này, càng về sau càng rơi vào cảnh khốn nguy cho huệ mạng. Con thường nói, thời mạt pháp này càng ngày càng dễ sợ lắm, chỉ cần sơ ý một chút là bị hại liền. Ngoại đạo đã bủa lưới khắp nơi. Một chúng sanh nếu không có lập trường vững, không có đường đi rõ ràng, không chịu nương theo lực gia trì của Phật thì khó mà thoát khỏi tầm ảnh hưởng đó đâu.

Hiện tượng này càng ngày càng rõ rệt, trên thế giới liên tục nẩy sinh ra những hiện tượng quá lạ lùng, thu hút hàng triệu người cuồng tín, ác có, thiện có, không biết con người rồi đây sẽ đi vào đâu! Từ mấy ngàn năm trước trong kinh Thủ-Lăng-Nghiêm đức Phật Thích­ca đã nói rất rõ chuyện này, trong thời mạt pháp của Phật thì tà giáo ngoại đạo nổi lên rất nhiều, họ cũng tự xưng là Phật, là Vô-Thượng-Sư, là Tiên Thánh tái thế. Thà họ làm ác đi cho mình dễ thấy, nhưng có nhiều lúc họ cũng khuyên làm lành lánh dữ, vạch ra những chân lý sáng láng làm ta khó biết được chân tướng, thành thử con người non dạ cứ đâm đầu chạy theo. Một khi đã theo rồi thì tinh thần tư tưởng bị khống chế, bị mê muội, không còn phân biệt được trắng đen nữa. Nhất là những người háo thắng, ưa thần thông, thích phép lạ, ưa tin đàn cơ, thích huyền bí, v.v... khó mà thoát khỏi cảnh trầm-luân. Tu hành ai cũng muốn giải thoát, nhưng vô ý đã bị lạc đường xa lắc mà không hay. Vạn lần xin cha má mau mau tỉnh ngộ chuyện này, ngay lập tức trở về với Phật, một lòng niệm Phật, nhờ lực gia trì của Phật A-di-đà mới tránh được nghiệp chướng, hầu cầu thoát khỏi cạm bẫy nguy hiểm.

Trong thư trước con có nói sẽ kể cho cha má nghe câu chuyện một người niệm Phật sáu trăm ngày không ngồi, không ngủ, không nằm. Chuyện này Hòa-Thượng Tịnh-Không giảng bằng tiếng Tàu khoảng cuối năm ngoái, con chưa kiểm chứng rõ được. Người đó là đàn ông chứ không phải đàn bà. Lúc đó Ngài nói bốn trăm ngày, tính đến nay thêm sáu bảy tháng nữa, như vậy cũng khoảng sáu trăm ngày. Người đó vẫn còn sống ở bên Tàu, tỉnh gì con quên rồi. Hòa-Thượng muốn mời ông ta qua đạo tràng bên Singapore để tu, vì đạo tràng này mở cửa hai mươi bốn trên hai mươi bốn và họ phục vụ ăn uống đầy đủ, khỏi cần lo chuyện nấu nướng gì cả. Ngài dặn người tu ở Singapore hãy thay phiên nhau tu chung với ông ta để coi thử ông ta có “lén” ngủ không! Riêng chính con chưa thấy ông ta vì con ở Úc, nhưng con tin viêïc đó có thể là thực. Trong sách vở Phật giáo thấy có nhiều vị Sư hai mươi, ba mươi năm không ngủ. Mới nghe qua khó ai tin được, nhưng bây giờ ngay trong thực tế đã có người đang thực hiện, ta mới biết những công phu kia không phải viển vông! (Con cũng vừa coi một bà chín mươi bốn tuổi vãng sanh, họ quay phim được trọn vẹn từ đầu tới cuối, lần tới con sẽ kể tường tận.)

Thưa cha má, trong kinh Phật nói chỉ cần mười câu Phật hiệu thôi cũng đủ vãng sanh thì tại sao người đó phải khổ nhọc công phu như vậy? Đây chính là sự quyết tâm kiên dũng của người niệm Phật. Thường người niêïm Phật họ chỉ có một đường đi, đó là về cho được thế giới Tây-phương Cực-lạc. Hễ về tới Tây-phương rồi thì chắc chắn một đời sẽ thành Phật. Nếu người niệm Phật đến “Nhất-Tâm-Bất-Loạn” thì không cần nói, nhưng lỡ không đạt đến cảnh giới này thì cái giá chót cũng phải niệm được mười câu để “Đới-Nghiệp-Vãng-Sanh”. Nhưng khi lâm chung ta thường đau đớn, chóng mặt, ồn ào, rối ren, con cháu khóc than... nhiều khi mình quên mất.

Cho nên, người niệm Phật thường phải sắp xếp người hộ niệm khi lâm chung. Hộ niệm là người còn khoẻ niêïm Phật hộ cho người ra đi. Phải rót vào tai người lâm chung tiếng Phật hiệu để giúp cho người ra đi giữ được chánh niệm. Phải hộ niệm liên tục trước giờ đi và tiếp tục niệm thêm tám tiếng đồng hồ nữa sau khi tắt thở mới chắc chắn được. Hẳn nhiên, đây là sự cẩn thận tối đa, chứ thực ra nếu đã được vãng sanh thì chỉ chớp mắt là họ đã đi về tới Tây-phương rồi. (Chuyện này trong thư sau, khi kể lại chuyện bà lão chín mươi bốn tuổi vãng sanh, con sẽ xin nói rõ thêm).

Nếu gia đình tất cả con cháu hiểu đạo thì đỡ lo. Gặp gia đình con cháu không tin Phật thì có thể bị khó. Trường hợp này người niệm Phật phải khôn khéo tìm phương giải quyết, như cố gắng khuyên con cháu tu hành, giảng giải Phật pháp cho nhiều để họ hiểu, xét coi những đứa con có ngỗ nghịch cãi lời không, v.v... nhưng dù sao chính mình phải hạ thủ công phu cho đắc lực, nếu không được “Nhất-Tâm-Bất-Loạn” thì cũng phải “Niệm-Phật-Thành-Thục”. Nghĩa là phải niệm liên tục ngày đêm, niệm cho tiếng Phật hiệu nhập vào tâm. Đi, đùứng, nằm, ngồi, ăn ngủ đều trong tiếng niệm Phật. Đừng để tâm mình xen tạp những việc khác, cố gắng buông xả vạn duyên. Tập một thời gian thì ngay trong giấc ngủ mình vẫn niệm Phật được, lúc đó sẽ an tâm hơn. Khi chung thời nếu con cháu quá ngỗ nghịch, bất hiếu, hay ngu si cứng đầu thì mình vẫn còn tỉnh táo tìm chỗ thanh vắng, yên tịnh để vãng sanh. Ví dụ như tới chùa, hoặc tìm cách cho mấy người ngỗ nghịch đi chơi xa, ngay những người quá thương mình mà không hiểu đạo cũng là một trở ngại rất lớn!

Khoảng năm 1999, ở Hoa-Kỳ có một vị Sư khi vãng sanh Thầy chỉ nói bóng gió vài câu với đệ tử rồi lén vào nhà kho quét sạch sẽ, mở thùng giấy ngồi kiết già mà viên-tịch, sáu tháng sau người ta mới phát hiện mà thân xác vẫn còn nguyên vẹn. Phật tử muốn xin giữ nhục thân để thờ nhưng chính phủ không cho phép. Tại sao thầy đó phải trốn? Nhiều Sư Ni giải thích là Thầy làm như vậy để người ta thấy sự vi diệu của pháp Phật, nhưng riêng con nghĩ cũng có thể Ngài sợ những đệ tử chưa hiểu đạo, khi thầy vãng sanh họ thương mà khóc la thì hư chuyện, cho nên thà âm thầm đi trước rồi để nhục thân lại ai làm gì làm thì hay hơn!

Hơn nữa, dù đã thành thục, nhưng có người vẫn thấy chưa chắc vì lỡ gặp xui xẻo bất ngờ thì sao? Đây chỉ là chuyện xui xẻo có ai ngờ được, thì người niệm Phật cũng phải cố gắng để tâm. Hãy thực tập, hễ gặp bất cứ chuyện gì xảy ra, dù bất ngờ, nhỏ lớn, buồn vui... thay vì la hét, than thở, nói lọng liệu... thì hãy “A-di-đà Phật”. Tất cả mọi sự mọi điều đều lấy câu A-di-đà Phật ra giải quyết, cách tập này cũng có thể đáp ứng một phần nào sự cố bất khả kháng vậy....

Nam-mô A-di-đà Phật. 
Con Kính thư. 

(Viết xong,19/7/2001 (tiếp theo thư trước 15/6)).

Lục Hòa Kính:

1.      Kiến Hòa đồng giải;

2.      Giới Hòa đồng tu;

3.      Thân Hòa đồng trụ;

4.      Khẩu Hòa vô tranh;

5.      Ý Hòa đồng duyệt;

6.      Lợi Hòa đồng quân.

Giáo, Lý, Hành, Quả. Tín, Giải, Hành, Chứng.

Cha má kính thương,

Trong thư này, như đã hứa từ thư trước, con sẽ kể cha má nghe chuyện một bà cụ chín mươi bốn tuổi vãng sanh lưu lại ngọc xá lợi. Vãng sanh là chuyện thường tình như những chuyện khác, giống như những cuộn băng và sách con gởi về cho cha má về niệm Phật vãng sanh lưu xá-lợi. Nhưng đặc biệt chuyện vãng sanh này đã được họ quay phim tại chỗ từ đầu tới cuối. Bà cụ không những lưu lại xá-lợi mà còn lưu lại cả đến “XÁ LỢI HÌNH PHẬT”, một hiện tượng rất hiếm có. Bà cụ ấy tên là Triệu-Vinh-Phương, người Trung-Hoa, bà bình tĩnh niệm Phật đến hơi thở cuối cùng, đến giây phút cuối cùng bà vẫn còn mở mắt nhìn tượng Phật A-di-đà trước khi từ từ nhắm lại ra đi. Hồi giờ nghe nói thì nhiều, ít khi nhìn thấy, khi đã nhìn thấy rõ ràng trước mắt, từng chi tiết một con không tránh khỏi ngạc nhiên về sự vi diệu của tiếng niệm Phật. Chính con đã từng nghe qua, từng niệm Phật, đã từng nhìn thấy rất nhiều hình chụp lại. Nhưng nhìn hình ảnh, đọc sách chỉ có cảm giác bình thường, còn thấy được hiện tượng đang diễn biến thật là cảm kích.

Bà cụ Triệu-Vinh-Phương được cái phước đức to lớn là nguyên cả một đại gia đình đều tu Phật, hiểu Phật, đều niệm Phật, cho nên họ đã làm đúng theo như kinh Phật chỉ dạy. Bà biết được ngày giờ ra đi, ba ngày trước ngày vãng sanh con cháu đều tề tựu về cùng nhau hộ-niệm cho bà. Cuộc vãng sanh này được quay phim để lưu lại làm kỷ niệm. Vô tình cuộn phim đó được phổ biến rộng ra ngoài, Hội-Tịnh-tông họ làm thành VCD để phổ biến, nhờ thế mà con được coi. Tụi con đề nghị chuyển qua tiếng Việt và sang qua video cho người Việt-Nam, khi nào có con sẽ tìm cách gởi về cho cha má coi. Đây là chuyện thực sự mới vừa xảy ra. Vì hoàn toàn là tiếng Tàu cho nên con chỉ xem hình thôi, không hiểu được nhiều chi tiết. Con xin kể lại được tới đâu hay tới đó, khi nào dịch được ra tiếng Việt sẽ hay.

Cuốn phim quay bắt đầu từ lúc hộ-niệm. Bà cụ vẫn tỉnh táo trên giường với tấm trải màu trắng(?), bà đắp cái mền hơi có bông màu vàng nhợt(?). Ban đầu bà ngồi, người ta chêm mấy cái gối sau lưng và bà cụ ngồi dựa vào thành giường niệm Phật. Phía sau đầu giường có đặt một bàn thờ nhỏ với hình Tây-phương tam Thánh (tức là Di-Đà – Quán-Âm – Thế-Chí). Bà cụ cầm xâu chuỗi 108 hột màu nâu sậm vừa lần hạt vừa niệm theo mọi người. Chung quanh bà có khoảng hơn mười người hộ-niệm, có lẽ đều là người trong gia đình(?). Một người đàn bà, có lẽ là con gái của cụ, tuổi cỡ bốn mươi ngồi bên trái giường để giúp bà cụ trở vai, sửa mền gối. Một người đàn ông tuổi cỡ năm mươi, có lẽ là con trai của cụ, ngồi bên phải giường cầm tấm hình Phật A-di-đà để trước mặt bà cụ cách cỡ gần một thước, để cho bà cụ nhìn. Nếu bà cụ có xoay mặt thì ông cũng di chuyển bức tượng theo cho bà thấy. Tấm hình Phật A-di-đà không phải là bức tượng hẳn hoi mà là tấm hình in trên trang bìa của một quyển kinh nào đó. Tất cả mọi người đều bình tĩnh, thành tâm niệm Phật. Họ chỉ niệm bốn chữ “A-di-đà Phật, A-di-đà Phật...”, họ niệm hơi nhanh, hai giây đồng hồ cỡ ba tiếng Phật hiệu. Bà cụ cũng điềm nhiên niệm Phật với mọi người. Mới nhìn vào ai cũng cứ tưởng đó chỉ là buổi niệm Phật bình thường, và giả như chưa biết trước sự việc thì không ai biết đây là buổi hộ niệm để đưa bà cụ về Tây-phương với Phật.

Buổi hộ-niệm hình như trải qua ba ngày, nhưng hai ngày đầu họ chỉ quay sơ qua cảnh trí thôi. Đến giờ gần lâm chung họ quay rất kỹ. Từ đầu tới lúc lâm chung nhìn nét mặt bà cụ không thấy gì là người bệnh cả, vẫn còn khỏe vì ánh mắt bà cụ vẫn tươi tỉnh, trong sáng. Nét mặt hồng hào, an nhiên, không có một chút nào tỏ vẻ đau đớn, hoảng hốt, châu mày hay mất bình tĩnh. Lúc bà còn ngồi dựa gối thì hai tay lần chuỗi niệm A-di-đà Phật. Sau đó ít lâu bà xoay người nằm bên phải, bà nhẹ nhàng để xâu chuỗi xuống nệm và chắp hai tay niệm Phật. Khoảng một phút trước lúc ra đi bà cầm xâu chuỗi lên tròng vào cổ tay phải bốn vòng để khỏi rớt, rồi chắp tay tiếp tục niệm Phật theo mọi nguời. Một giây trước khi ra đi mắt bà vẫn còn mở nhìn vào tấm hình Phật A-di-đà trước mặt. Ngay tới thời điểm ra đi bà từ từ nhắm lại, hai tay từ từ lỏng ra đặt xuống nệm, nằm theo tư thế kiết tường, môi bà cụ vẫn mấp máy niệm Phật chậm dần rồi ngưng luôn. Người ta để yên bà tư thếđó, nhẹ nhàng đắp tấm vải vàng lên đến vai rồi tiếp tục niệm Phật luôn tám tiếng đồng hồ nữa. Trong lúc vừa lâm chung thì tự nhiên cây mai trước vườn nở ra mấy cái hoa màu trắng, có vài con chim bay đến đậu trong khung cửa ca hót...

Sau đó, họ vẫn tiếp tục niệm Phật cho đến lúc tẩm liệm. Khi liệm xác, thân thể bà vẫn mềm mại, nét mặt vẫn tươi tỉnh như đang nằm ngủ. Về việc thiêu, cái lò thiêu ở Trung-Quốc có hình dáng giống như cái chum trộn hồ xây nhà vậy, cao cỡ một thước rưỡi, đường kính cỡ một thước.

Một chuyện rất đặc biệt xảy ra là sau lễ hỏa thiêu, khi người ta mở chum ra, bới tro lên tìm được một số xá lợi, đồng thời phát hiện ra một khúc xương đã biến thành xá lợi có hình dạng giống hệt một tượng Phật A-di-đà cao cỡ chừng ba tấc. Họ quay rất rõ, con nhìn cũng rất rõ. Con rất ngạc nhiên về việc này. Con sợ có sự lầm lẫn nào không cho nên hỏi đi hỏi lại mấy người cùng coi, họ xác định là xá lợi hình Phật thật sự. “Tượng Phật xá lợi” đó trên đầu tóc xoắn hình trôn ốc, một tay để ngang ngực, một tay xuôi thẳng xuống, thấy được rõ ràng cả năm ngón tay. Hai chân Phật đứng thẳng vững vàng giống y hệt như một tượng Phật đúc vậy đó. Riêng khuôn mặt phía bên phải bị chảy méo lại một chút và dính liền với một mảnh xá lợi khác. Còn nữa, có một đốt xương,(có lẽ là xương sống?),lại biến thành một đài sen có đầy đủ cánh hoa. Khi nhặt đài hoa giữa đống tro người ta thấy có một viên xá lợi xanh biếc nằm trong đài hoa. Đem tượng Phật đặt vào đài hoa sen thì nó vừa vặn giống như là chọn lựa vậy. Lão cư- sĩ Triệu-Vinh-Phương vãng sanh được thâu hình để lại và họ đặt tên là “Triệu-Vinh-Phương Lão Cư-Sĩ Vãng-Sanh Lục-Ảnh”.

Thưa cha má, câu chuyện này con kể ra đây để cha má hiểu được sự linh diệu vô cùng vô cực của Pháp môn niệm Phật. Ở đây, con nhìn thấy rất nhiều những hình ảnh họ chụp những trường hợp vãng sanh. Con biết rất nhiều những người vãng sanh về thế giới Cực-lạc của Phật. Nhưng những tấm hình dù sao đi nữa nó cũng chỉ là một ảnh chết cứng, những bài viết dù sao cũng chỉ là một mớ chữ để đọc, khó gây được một cảm xúc mãnh liệt bằng như chính mắt mình xem lại những đoạn phim hiếm có này. Vì sao lại hiếm có? Vì người chết đâu có nhiều đến nỗi người ta phải chuẩn bị quay phim. Hơn nữa khi vãng sanh họ rất cần sự thanh tịnh trang nghiêm. Gia đình ít khi cho quay phim hay chụp hình trong những giờ phút quan trọng nhất này, ngay cả những vị sư đôi lúc họ cũng không cho phép làm ồn nữa là khác. Chắc chắn một vài tháng nữa khi nào cuộn phim được chuyển dịch ra tiếng Việt con sẽ gởi về cho cha má và gia đình coi tận mắt. Một cuộc vãng sanh thực sự chứ không phải đóng tuồng.

Vãng-sanh về với Phật là chuyện có thật một trăm phần trăm. Kinh Phật nói ra đúng thật một trăm phần trăm. Tu hành đúng cách đúng pháp môn trong một đời này được về sống trong thế giới của Phật là chuyện thực tế một trăm phần trăm, nhất thiết không phải hão huyền viển vông. “Niệm Phật thành Phật” thực sự đã có bằng chứng rõ ràng cụ thể, từng việc từng việc đều đúng y như Phật nói trong kinh, không sai chút nào cả.

Bây giờ câu hỏi đưa ra là: Ta có muốn về với Phật hay không? Ta có muốn vĩnh viễn hưởng cuộc đời vô cùng khoái lạc, vô cùng trang nghiêm, vô cùng tự tại, thần thông diệu dụng, tuyệt đối vĩnh ly khổ ách, vĩnh ly sanh tử, sống đến vô hậu vô chung tại cõi Tây-phương Cực-lạc hay không mà thôi? Không muốn đi thì thôi khỏi nói. Còn muốn đi thì vấn đề đặt ra là: “Làm sao ta được vãng sanh? Ta tu cách nào? Làm sao thoát cho được nợ trần? Làm sao ta được đắc đạo về với Phật?

Thưa cha má, đây là những câu hỏi vô cùng nghiêm chỉnh và thực tế. Câu trả lời là, chỉ cần làm đúng như Phật dạy, một lòng Tin Phật, niệm Phật, cầu sanh Tịnh-độ là được. Chắc chắn như vậy. Làm sao mà biết chắc chắn? Những người thực tâm TIN Phật, tha thiết NGUYỆN về Tây-phương, và LÃO-THẬT-NIỆM-PHẬT thì biết chắc chắn, chính họ chứng minh điều đó. Những cuộn phim, những lời giảng của những vị pháp sư, những người chứng kiến tận mắt những cuộc vãng sanh kể lại, những tấm hình, những viên ngọc xá lợi, những Phật xá lợi, v.v... rõ ràng là sự chứng minh không còn chối cãi được nữa. Cụ bà Triệu-Vinh-Phương chín mươi bốn tuổi vãng sanh, đã được con cháu quay phim để lại là một sự xác nhận rõ ràng rằng tất cả chúng ta không kể là Tăng hay Tục, đều có thể về được tới thế giới Tây-phương Cực-lạc trong một đời này thôi.

Điều cụ thể là, nếu cha má muốn được trong đời này về tới Tây-phương Cục-lạc thì cứ làm như vầy, bắt đầu ngay từ bây giờ phải chấm dứt coi tất cả những thứ phim ảnh phù phiếm giả tạo, liên tục coi giảng pháp của Hòa-Thượng Tịnh-Không, nghe đi nghe lại mỗi bộ một trăm lần, hai trăm lần, ba trăm lần... thì tự nhiên biết rõ đi như thế nào. Con sẽ tìm mọi cách gởi về cho cha má tất cả những lời Pháp quý giá đó. Hiện giờ có bộ nào cứ nghe bộ đó trước đã. Với lại không cần nhiều, chỉ cần nhứt tâm nghe pháp thì một bộ cũng đủ liễu ngộ rồi. Hằng ngày trên thế giới người ta nghe lời Pháp của Ngài, tu hành đắc đạo rất nhiều. Kẹt một nỗi là số lượng dịch ra tiếng Việt còn hạn chế, và phương tiện gởi về Việt-Nam khó khăn, cho nên ở Việt-Nam phải chịu thiệt thòi hơn các nơi khác. Nếu bây giờ chưa có những bộ pháp đó thì tạm thời cha má hãy dành thì giờ đọc thư con cho nhiều, càng nhiều càng tốt, có những thư rất quan trọng. Đọc cho đến thuộc lòng, thì tự nhiên sẽ thấy đầu mối, thấy đường đi, nắm được chìa khóa để chuẩn bị mở lời Pháp của Ngài.

Nên nhớ, những thư của con dù sao cũng chỉ là sự khai mở một lỗ nhỏ để cha má nhìn vào Phật đạo mà thôi, chứ con không có khả năng làm gì khác hơn. Phần chỉ đường là của con, phần ngộ nhập vào đạo chính cha má phải tự thực hiện lấy. Khi ngộ nhập vào đạo rồi thì những lá thư này không còn hiệu dụng nữa. Tuy nhiên, cũng nên nhớ, khi chưa thấy được Phật đạo thì những lá thư này vẫn còn có giá trị, vì dù chỉ là một lỗ nhỏ nhưng biết để mắt vào đó, qua cái lỗ nhỏ ấy cũng có thể nhìn thấy được Phật Pháp chứ không phải thường đâu!

Niệm Phật sẽ thành Phật, ai cũng thành Phật được cả. “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh” thì “nhất thiết giai thành Phật”. Thành Phật là trở về cái vốn của chính mình sẵn có chứ không có gì xa lạ cả. Cho nên, người nào biết đường trở về thì họ sẽ thành Phật, người nào cứ chạy quanh quẩn theo những cái hão huyền bên ngoài thì sẽ quên đường về, sẽ mất luôn huệ mạng trong luân hồi lục đạo, tử tử, sanh sanh trong khổ đau bất tận. Niệm Phật là công phu tu tập rất đơn giản mà lại tối ư vi diệu để một đời viên mãn Phật đạo. Những người tu hành với lòng tin vững chắc, nhất hướng chuyên niệm, một đường đi tới, họ thành tựu rất dễ dàng. Trong thư trước con có kể chuyện ông Trịnh-Tích-Tân, giảng kinh xong thì không thèm giảng nữa, kêu bạn bè mướn nhà để vãng sanh. Về nhà người bạn, chỉ một phút niệm Phật thôi, ông leo lên giường ngồi tréo chân vãng sanh. 

Sự vãng sanh này đâu phải là chuyện trùng hợp. Một trăm bà cụ chết, một trăm bà đau khổ, một ngàn ông cụ chết, một ngàn ông cụ mê man bất tỉnh, một trăm ngàn người trẻ chết, một trăm ngàn người trẻ hoảng hốt, la hét, kinh sợ, giãy giụa... Trong khi, MỘT bà cụ niệm Phật thì MỘT bà cụ an nhiên tự tại, MỘT ông niệm Phật thì MỘT ông bình tĩnh ngồi kiết già chắp tay niệm Phật ra đi, MỘT người trẻ niệm Phật thì MỘT người trẻ biết trước ngày, giờø, tháng, năm vãng sanh, thì làm sao gọi là trùng hợp hay may rủi được.

Thưa cha má, con người chúng ta từ vô thủy tới vô chung đều bất sanh bất tử. Tất cả mọi người, tất cả vạn vật đều bất sanh bất tử. Tiếng Tư û hay Sanh chỉ dùng để chỉ cho cái thân tứ đại này còn hay mất mà thôi. Tại vì con người mê muội, quên mất cái chân ngã nên cứ đâm đầu vào chỗ khốn cùng để đội lên lớp người, lớp thú, lớp cầm... rồi sanh tử, tử sanh trong vòng khổ lụy. Một lần ‘Tử’ là bắt đầu cho một lần ‘Sanh’. Một lần ‘Sanh’ là chuẩn bị cho một lầnï ‘Tử’. Cứ thế thần thức của một chúng sanh trôi lăn, trôi lóc qua trùng trùng cảnh giới khác nhau, trong đó có nhiều cảnh giới đày đọa thân tâm chúng ta khổ đau kinh khủng mà ta quên hết. Hễ người khéo tu một chút được sanh vào loài người thành một đứa bé khóc oa oa, nhưng nó có biết gì đâu. Giỏi lắm thì thông minh một chút, đẹp trai một chút là cùng, lớn lên tạo nghiệp rồi chết, rồi đọa lạc. Người ngu si thì sanh thành con heo, con chó, con bò... Lỡ chui vào loài thú rồi thì tiếp tục ngu si, bao giờ thoát khỏi kiếp mang lông đội sừng đây! Một thần thức khi qua một cuộc cách ấm thì quên hết quá khứ, cho nên không ai để ý tới, chứ nếu biết được thì chắc phải sợ đến toát mồ hôi máu, ăn ngủ không yên chứ phải thường đâu!

Quyết tâm về với Phật là con đường tốt đẹp nhất, không còn con đường nào khác có thể sánh bằng. Xác quyết được như vậy thì bây giờ mình phải chuẩn bị sẵn sàng con đường đi. Nghĩa là tự cha má phải sẵn sàng để tự cứu lấy cha má. Tất cả con cái trong gia đình phải sẵn sàng cứu lấy cha mẹ mình để làm tròn chữ hiếu. Nhất định chữ hiếu đây không có nghĩa là một vài bữa ăn, hay cung phụng rượu thịt ê hề để gây thêm nghiệp chướng cho cha mẹ rồi sau đó ai khổ mặc ai.

Con xin quay trở lại chuyện bà cụ Triệu-Vinh-Phương. Tại sao bà cụ biết trước ngày giờ ra đi mà gia đình còn phải tổ chức hộ niệm liên tục ba ngày đêm, còn niệm thêm tám giờ sau khi bà ra đi. Đây là điều rất quan trọng mà người niệm Phật nói riêng, tất cả mọi người dù không tu Phật cũng cần phải biết. Nếu không biết dễ vô tình tạo ra những cảnh rất thương tâm, rất thảm thương, rất tội nghiệp!

Thưa cha má, vềđược Tây-phương Cực-lạc rất dễ, nhưng cũng rất khó. Biết làm đúng cách đi dễ dàng như vô lượng vô biên người đã đi được rồi, đã giải thoát được rồi, đã thành Bồ-tát rồi, nhiều đến nỗi ngày nay không thể nào đếm được nữa. Nhưng cũng khó, khó trong đường tơ kẽ tóc, sơ ý một tí ti là có thể mất phần liền. Trong những thư trước con có đề cập tới chuyện này, xin lục lại xem thêm. Hôm nay con nhấn mạnh việc làm sao cho chắc chắn đi được? Đó là nhờ -HỘ-NIỆM - Hãy đọc thật kỹ, xin đừng phớt qua.

Hộ-niệm: Tự mình hộ chính mình, và nhờ người khác hộ cho mình. Niệm Phật điều quan trọng là KHÔNG HOÀI-NGHI, KHÔNG XEN-TẠP, KHÔNG GIÁN-ĐOẠN. Người nào giữ được ba điều kiện này chắc chắn được vãng sanh, người đó có thể tự hộ niệm cho mình không cần nhờ người khác. Nghĩa là muốn vãng sanh là đi ngay lập tức. Liên-Trì Đại-Sư, Thiện-Đạo Đại-Sư, Vĩnh-Minh Đại sư, v.v... rất nhiều rất nhiều vị sư nói đi, đệ tử chưa kịp hỏi: “Thầy đi đâu?” là họ đã tịch rồi. Tăng Ni được vậy, còn cư sĩ thường như chúng ta có được không? Thưa cha má, nhiều không kể hết. Ông Trịnh-Tích-Tân thì ngồi vãng sanh, Cụ Hạ-Liên-Cư thì đứng vãng sanh, cụ Triệu-Vinh-Phương thì nằm kiết tường vãng sanh, v.v... nhiều lắm. Nếu kể cho hết thì những trang giấy này không đủ chỗ đâu.

Thế nhưng với điều kiện sinh hoạt của chúng ta, với căn khí nghiệp chướng kết tập nhiều đời nhiều kiếp, ta thường bị nhiễu loạn, bị phân tâm, bị xen tạp cho nên công phu huân tập của mình không đủ bảo đảm tự vãng sanh. Lúc lâm chung sức khoẻ bị yếu, khí huyết suy giảm, thân thể đau đớn, gia đình lộn xộn, con cháu khóc kể... tâm trí rất dễ bị rối loạn. Trong điều kiện như vậy thường bị oan gia, trái chủ, nghiệp chướng nhào tới bủa vây trả thù, đòi nợ, những cảnh giới hãi hùng hiện ra rất dễ làm cho ta hoảng sợ, mê man bất tỉnh, hãi kinh! Nếu gặp phải những trường hợp nàøy chắc chắn không thể nào vãng sanh được. Vì thế người Niệm Phật cầu sanh về Cực-lạc thế giới phải lo liệu cho kỹ, phải nổ lực công phu, phải niệm Phật liên tục, phải nguyện sanh Tây-phương hằng ngày, phải nhất tâm tin tưởng pháp môn, phải quyết chí một con đường đi về cho được với Phật... có như vậy mới giảm thiểu những tai nạn bất ngờ vào giờ phút chót.

Trong nhiều đời nhiều kiếp mình đã giết hại nhiều sanh linh, mình gây bao tội ác, thì chắc những oan gia đó luôn luôn rình rập để chờ cơ hội trả thù, chỉ cần mình sơ ý là chúng tấn công ngay. Ngay cả những người được Phật thọ ký rồi cũng vẫn phải hết sức cẩn thận. Hơn thế nữa, người đã được Phật thọ ký họ tu còn tinh tấn gấp mười lần trước đó nữa là khác. Họ tu ngày tu đêm, họ niệm Phật quên ăn bỏ ngủ, họ không rời A-di-đà Phật một giây phút nào, vì đã chắc rồi cũng cần phải chắc hơn mới là chắc chắn vậy!

Hộ-niệm rất quan trọng. Ngoài những người niệm Phật được “Nhất-tâm-bất-loạn” tự tại vãng sanh, hầu hết người được vãng sanh là nhờ sự hộ niệm lúc lâm chung. Hộ-niệm là người khoẻ mạnh niệm Phật phụ cho người ra đi, giữ chánh niệm cho người sắp lâm chung, nhắc nhở người ra đi cố gắng giữ tiếng Phật hiệu liên tục để bảo đảm niệm được mười câu “A-di-đà Phật” trước khi ra đi. Một điểm nữa là chính lòng thành tâm của người hộ niệm góp phần rất lớn để giúp thần thức người lâm chung được chiếu xúc quang minh của A-di-đà Phật. Người ra đi nhiều lúc quá mệt, quá yếu không cất tiếng niệm được, thì tiếng niệm Phật của người hộ-niệm rót liên tục vào tai người đi, giúp cho tâm họ niệm theo. Miệng không niệm được nhưng trong tâm niệm Phật vẫn được vãng sanh như thường. Cho nên, điều kiện tối quan trọng là lâm chung tâm phải tỉnh táo. Những người bị tai nạn, nạn nước, nạn lửa, bị bạo tử... khó được vãng sanh vào cảnh giới tốt là vì lý do không tỉnh táo và bị hốt hoảng, bị khủng bố.

Nhưng bây giờ, làm sao cho tâm tỉnh táo? Trong kinh Phật dạy, người nào niệm Phật thì khi lâm chung tâm hồn sẽ tỉnh táo,“Thị nhơn chung thời tâm bất điên đảo, tức đắc vãng sanh A-di-đà Phật Cực Lạc quốc độ”, (kinh A-di-đà).

Hỏi rằng, người khi lâm chung tỉnh táo có chắc được vãng sanh Cực-lạc không? Chưa chắc. Vì sao? Vì tỉnh táo là điều kiện “ắt có nhưng chưa đủ”. Tỉnh táo và niệm Phật mới đủ. Như vậy nhiều người tu những pháp môn khác, nếu tu tinh tấn, khi lâm chung họ vẫn có thể được tỉnh táo, nhưng chưa chắc họ sẽ được vãng sanh Tây-phương Cực-lạc cảnh giới Phật. Vì sao? Vì cái Nguyện của họ sẽ dẫn dắt họ đi vào cảnh giới khác. Ví dụ, tu Nhơn thì nguyện tái sanh làm người; Tu Tiên thì thèm khát những phép thần thông hữu lậu, tu Định đi có thể vào cảnh giới Trời. Còn tu mà không nguyện thì đi theo Nghiệp, nghiệp nào lớn nhất sẽ lôi họ đi. Tu hành như vậy chẳng qua tạo được chút phước nào đó, tất cả cũng hoàn về đọa lạc mà thôi, vì tất cả đều còn trong lục-đạo luân-hồi, chưa thoát khỏi tam-giới. Còn người không tu hành thì thôi miễn bàn tới! Cho nên, có thể đưa ra công thức liên hoàn như vầy:Niệm Phật thì tâm Tỉnh Táo; Tỉnh Táo thì được Vãng Sanh; Vãng Sanh là nhờ Niệm Phật. Nói gọn lại: “Niệm Phật - Tỉnh Táo - Vãng Sanh Cực-lạc Thế-giới”.

Thưa cha má, trong đời này cha má gặp được Phật pháp, có người khuyến khích tu hành là cả một nhân duyên rất lớn, phúc đức rất lớn từ tiền kiếp, thiện căn sâu dày của cha má từ quá khứ. Xin cha má đừng bỏ lỡ cơ hội ngàn vạn đời khó kiếm này. Hãy thành tâm niệm “Nam-mô A-di-đà Phật” thì tất cả đều thành tựu viên mãn.

A-di-đà Phật 
Con kính thư. 
(Viết xong, Úc châu 4/8/2001). 

Bậc giác ngộ sống trong hoàn cảnh thật nghèo khổ, họ vẫn hưởng thọ sự an vui rộng lớn. (Pháp-Sư Tịnh-Không).

13 -Lời khuyên song thân

Kính cha má,

Cuộc đời một người rất ngắn ngủi, thân này chỉ một thoáng qua là đi vào hư không, trả về cát bụi, làm sao mà tồn tại trường thọ qua thời gian. Người tuổi trẻ nhìn thấy cuộc đời sáu bảy chục năm nữa tưởng là lâu lắm! Nhưng khi tuổi xế chiều mà không tính trước chuyện thoát thân thì thật là một điều sơ sót đáng tội nghiệp! Ai mà không muốn người thân yêu ở mãi với ta, nhưng khôn ngoan hơn một chút nữa, thì suy tính cho cuộc sống tương lai dài lâu mới là người trí huệ, liễu ngộ rốt ráo. Hôm qua là ta, hôm nay là ta và ngày mai cũng chính là ta, xin cha má cẩn thận.

Trong phần thư trước con nói chuyện HỘ-NIỆM, đây là điều tối quan trọng cho một người muốn một đời này thoát khỏi đọa lạc. Vì trước giờ mình không học Phật, không hiểu Phật, không biết đâu là đường giải thoát, cho nên danh từ HỘ-NIỆM mới nghe cảm thấy lạ, còn người hiểu Phật pháp rồi thì họ rất chú trọng và đặc biệt quan tâm. 

Hộ-niệm cho người ra đi cần phải chuẩn bị về vấn đề tâm lý. Tâm lý của chính người ra đi, tâm lý của thân nhân con cái và người đến hộ niệm. Con xin nhắc đi nhắc lại với cha má là con người ai cũng có số phần cả, ngoài những người tu hành đạt được đạo cao, tự họ có thể đi hay ở tùy ý, còn tất cả đều đã được đặt để bởi định mệnh sẵn. Hộ-niệm hay không hộ-niệm thì năm, tháng, ngày, giờ, ra đi vẫn đúng như theo định số, khó thể thay đổi. Nói rõ thêm nữa, người không niệm Phật, hoặc có niệm Phật cầu về Tây-phương thì ngày bỏ xác thân trần tục của họ cũng không thay đổi, chỉ có khác nhau là người niệm Phật cầu sanh Tịnh-độ thì lúc lâm chung được an nhiên tự tại, tâm hồn bình tĩnh sáng suốt, không đau đớn, hoặc nếu có bị đau bệnh cũng được nhẹ đi rất nhiều, (đau bệnh là do nghiệp chướng của mình chưa phá nổi), và sau cùng cái quý báu nhất là được vãng sanh về thế giới Cực-lạc với Phật. Từ đó về sau không còn sanh tử nữa, vĩnh viễn hưởng sự an lạc vui sướngï, ngày ngày nghe được pháp âm của Phật để chờ ngày viên mãn thành Phật.

Phần thư trước con nói, Hộ-Niệm có thể tự mình hộ cho mình hoặc nhờ người khác hộ cho mình. Tự-Hộ dành cho các người có công phu tu hành tốt, đã được từ “sự nhất tâm bất loạn”, có nghĩa là họ đã đạt được cảnh giới “niệm bất niệm”, đại khái trong tâm luôn luôn có tiếng Phật hiệu dù cho bên ngoài họ không niệm. Chính vì thời thời khắc khắc tâm họ đều niệm Phật, cho nên họ muốn vãng sanh là đi liền, sống chết tự tại. Tự-hộ-niệm còn được hiểu là người ra đi phải tin tưởng vững chắc vào pháp Phật, tự mình niệm Phật, tự mình cầu nguyện về nước Phật chứ không phải ỷ vào người khác, không phải thấy người ta tới hộ niệm cho mình là yên tâm nằm nghỉ để chờ chết.

Một vấn đề khác nữa là người nào muốn vãng sanh về cõi Cực-lạc của Phật thì không được sợ chết. Pháp môn niệm Phật được chư Phật, chư Tổû Sư vinh xưng là tối thượng pháp môn, người chí thành niệm Phật thì được “Bất-Bệnh, Bất-Lão, Bất-Tử”. Còn bệnh, còn lão là tại vì tự mình còn có vấn đề. Vãng sanh không phải là chết, người niệm Phật lúc nào cũng ra đi trong lúc còn tỉnh táo, còn sống mà đi, cho nên gọi là “BẤT-TỬ”. Còn sợ chết là chưa hiểu đạo. Người muốn vãng sanh thì không được lưỡng lự nửa đi, nửa ở, không được bám víu vào cảnh thế gian. Còn lưỡng lự luyến tiếc thế gian là chưa tin Phật, là còn muốn tự đày đọa mình trong luân hồi khổ ải, là chưa thật sự muốn về Tây-phương.

Hầu hết chúng sanh đời này vì chưa hiểu đạo cho nên không tha thiết việc vãng sanh, hoặc hồ nghi kinh Phật, cho đó chỉ là điều nói khuếch đại để khuyến khích người ta làm lành lánh dữ mà thôi. Chính vì vậy, mà ai cũng cứ nằm đó chờ người thân chết rồi tới chùa cầu siêu lấy lệ cho qua truông, để chứng tỏ với mọi người là mình có hiếu, có nghĩa. Tất cả những sự việc này chỉ tạo được một chút xíu công đức mà thôi, nghĩa là khó có hy vọng cầu được siêu sanh vào thế giới Cực-lạc của Phật A-di-đà. Những người lòng còn tham luyến danh vọng, tiếng tăm, luyến nhớ con cháu rất khó được vãng sanh vì lúc lâm chung tinh thần họ không tập trung vào câu A-di-đà Phật, quên lãng việc cầu sanh về Tây-phương, cho nên, dù có người hộ niệm đi nữa họ cũng không thể tương ứng với điều kiện của Phật.

Ngoài việc tự Hộ-Niệm, hầu hết chúng ta không ai dám cả quyết là đã đạt được công phu “Nhất-tâm-bất-loạn” hoặc “Niệm-Phật-thành-thục”, cho nên rất cần đến người khác như bà con thân nhân, những người biết niệm Phật đến hộ niệm cho mình, để giúp mình giữ chánh niệm, bảo đảm khi ra đi mình niệm được mười câu “A-di-đà Phật” trước khi rời bỏ xác thân. Con xin nhắc lại lời kinh tối quan trọng trong kinh Vô-Lượng-Thọ, nguyện thứ mười tám , đức Phật A-di-đà nói, người nào trước khi lâm chung niệm được mười câu danh hiệu của Ta mà không được sanh về nước Ta, Ta thề không thành Phật. Chỉ trừ những kẻ mang tội ngũ nghịch và phỉ báng chánh Pháp. Đây là lời thề của đức Phật A-di-đà. Trong đó tội phỉ báng pháp Phật nặng hơn và không cách nào cứu được, vì đã phỉ báng tức là không tin, mà không tin thì chắc chắn không bao giờ niệm Phật được. Còn bị tội ngũ nghịch nhưng không phỉ báng pháp Phật, nếu có cơ may niệm Phật được, vẫn được cứu như thường. Nên nhớ tội ngũ nghịch quả báo là Địa Ngục A-Tỳ, nhưng niệm Phật A-di-đà có thể cứu được. (Cái đạo lý này rất cao, có dịp sẽ trở lại). Cho nên Pháp Niệm Phật vi diệu, vi diệu, rất ư vi diệu. Câu niệm “A-di-đà Phật” được gọi là “Vạn-Đức-Hồng-Danh”. Vô lượng công đức, vô lượng công năng, không thể nào diễn tả được. Bất khả tư nghị!

Vì thế niệm Phật có sự thành tựu rất lớn. Mình niệm Phật cũng cần nên khuyên những người trong nhà cùng niệm Phật, và giảng giải cho họ hiểu sự quý báu giải thoát để cùng được lợi ích, và cùng giúp nhau trong giờ phút cuối cùng, đó là sự yêu thương thành thực nhất. Thực tế, nên nhớ điều này, những người không hiểu đạo, càng thương yêu nhau họ càng gây nhiều điều oái oăm đoạ lạc cho nhau, nhiều cảnh thương tâm không tả xiết! Sự vô ý có thể làm nên những hành động đại nghịch bất hiếu! Vì sao vậy? Trong suốt cuộc đời sáu bảy chục năm dù có tu hành hay không thì cái niệm cuối cùng của cuộc đời vẫn là quyết định con đường tái sanh.

Ví dụ, như chuyện cụ Triệu-Vinh-Phương vãng sanh năm 1999, lúc đang ngồi bà cụ muốn nằm xuống giường, người con gái nhẹ nhàng đỡ bà nằm xuống và lấy tấm khăn lót nhẹ dưới vai, nhìn thấy trên mặt người con gái giọt nước mắt ướm ra và lăn nhẹ xuống má nhưng cô ta không khóc thành tiếng mà vẫn tiếp tục niệm “A-di-đà Phật”. Có đoạn người con trai của bà cầm hình Phật A-di-đà trước mặt dặn dò người mẹ niệm Phật, nhưng ông ta nghẹn ngào, ngay lúc đó ông liền núp mặt ông ta sau tấm hình Phật, không dám cho mẹ thấy. Coi tới đó con mới thấy rằng cả gia đình bà cụ đều hiểu đạo Phật và làm đúng theo lời Phật dạy.

Tại sao vậy? Vì chính cái niệm cuối cùng có thể quyết định hẳn tương lai của người ra đi. Hễ nẩy ra một niệm sân giận đi vào địa ngục; một niệm tham lam đi vào ngạ quỷ, một chốc lát mê muội đi vào đường súc sanh ngay. Một niệm luyến nhớ con cháu (vì thấy giọt nước mắt của người con), có thể thay đổi hẳn tình thế, thay vì về Cực-lạc bà có thể tái sanh lại làm người hoặc bị đoạ lạc vào đường khác. Nghĩa là chỉ cần một tí sơ ý cũng đủ làm oan uổng cả một đời tu hành, có thể dẫn tới khổ đau bá thiên vạn kiếp sau đó!

Vì thế, khi lâm chung mà con cái khóc kể, kêu réo, ồn ào, hoặc đụng chạm mạnh vào thân thể người đi, sẽ làm xáo trộn về tâm lý và gây đau đớn cho thân thể, làm người ra đi rất dễ bị đọa lạc. Về thân thể người sắp ra đi đang ở vào thời điểm cực kỳ khó chịu ở lúc tứ đại phân ly, họ có thể bị đau đớn kinh khủng khi bị đụng chạm. Cho nên, sơ ý chỉ cần một sự chạm xúc bất cẩn cũng có thể đủ làm cho người bệnh đau đớn chịu không nổi. Nếu người thân vô ý cứ ôm, giựt, níu kéo... làm cho người ra đi đau quá đâm ra sân nộ, giận dữ thì trong nháy mắt thần thức bị đoạ vào địa ngục ngay. Do đó, nếu không cần thiết lắm đừng nên đụng chạm đến người bịnh. Nếu bất đắc dĩ cần giúp trở mình thì phải hết sức nhẹ nhàng, mềm mại. Còn việc kêu réo, khóc than, kể lể... những nỗi bi thương là điều tối kỵ, tuyệt đối phải bỏ. Nếu không, chắc chắn sẽ làm cho người đi mất tự chủ, tâm hồn bị bấn loạn, hoảng hốt, hoặc bi lụy. Đang đứng giữa những cảnh giới lạ mà tâm hồn điên đảo rối loạn, thì oan gia trái chủ sẽ lợi dụng cơ hội nhào vô hốt gọn linh hồn họ để đòi nợ, trả thù, nó tìm cách dìm thần thức người thân của ta vào các đường ác hiểm khó mà cứu thoát được.

Ấy chính là vì quá thương mà hại người mình thương! Lương tâm thiện lành nhưng không có trí huệ có thể gây ra tội ác là như vậy! Chính vì những lý do này, người hiểu đạo không bao giờ dám làm một cử chỉ sơ hở vô ý nào gây dao động tâm hồn, làm thương tâm người đi. Nhất định phải nhớ, phải nhớ kỹ điều này.

Biết như vậy nhưng không dễ thực hiện. Làm sao tránh được tình trạng này? Phải tin Phật, phải quyết tâm cứu độ người thân. Cụ thể ngày ngày khuyên nhau niệm Phật, giảng giải Phật pháp cho nhiều để con cái và thân nhân trong gia đình hiểu đạo. Người đi hiểu đạo, người hộ niệm hiểu đạo, tâm tâm tương ưng cùng nhau hướng về một hướng chuyên niệm Phật cầu vãng sanh, thì sự việc vãng sanh ắt thành. Gia đình nào mà có con cái thân nhân hiểu đạo là có cả một đại phước báu trên đời. Nên nhớ, người sắp ra đi tinh thần nhiều lúc chao đảo, người hộ niệm phải hiểu ý, phải thành tâm niệm Phật và cầu Phật gia hộ, chọn người thân nào yêu mến nhất kèm sát bên cạnh để an ủi, khích lệ, khuyên nhủ, nhắc nhở người đi cố gắng niệm Phật, tâm tâm luôn nghĩ về Phật A-di-đà, và một lòng cầu sanh về Tây-phương với Phật. Phải củng cố niềm tin, ủng hộ tinh thần cho người ra đi. Ngoài ra tuyệt đối không xen bất cứ chuyện gì khác.

Tuyệt đối không để người ngoài chen vào hỏi thăm sức khoẻ hay chúc lành, chúc bình phục gì cả. Nhất định chỉ có niệm Phật, ngoài việc niệm Phật tuyệt đối không cần đến bất cứ một hành động thương yêu, một câu nói đưa đẩy, môt ý tưởng cầu an nào cả. Cứ việc vững tâm niệm “A-di-đà Phật” và thành tâm cầu xin Phật đến tiếp dẫn, thì cái uy đức của danh hiệu Phật sẽ đánh vẹt tất cả mọi cảnh giới và quang minh của Phật A-di-đà sẽ xuất hiện để tiếp dẫn liền. Ông Châu-Quảng-Đại mấy năm trước ra đi trong trường hợp này. Một người chưa hề biết Phật là gì, đến cuối đời nhờ phúc đức, có duyên may gặp người khuyên niệm Phật. Ông chỉ niệm Phật và được hộ niệm 3 ngày đêm, đức Phật A-di-đà hiện tiền tiếp dẫn, trước khi buông bỏ xác thân ông còn cảm ơn được mọi người.

Tại sao Ông ta đi dễ như vậy? Vì lòng tin đột xuất phát sinh vững mạnh, vì gia đình một lòng tin tưởng nguyện cầu, vì những người hộ niệm đều thành tâm thiện ý. Con người khi dồn vào đường cùng thường phát sinh những tâm linh mạnh kinh khủng, tinh thần của ông ta dồn hết vào niềm tin Phật. Lòng TIN lên cao cực điểm đã đánh vẹt tất cả chướng ngại và ngay tức khắc cảm ứng tới Phật quang. Nếu như lúc đó ông ta không tin tưởng thì cho dù hàng ngàn người tới hộ niệm cũng khó thể nào thoát được. Nói đi nói lại, TÍN-NGUYỆN-HẠNH là pháp môn thành Phật, trong đó lòng TIN là đầu mối của tất cả vạn sự để đưa về cõi Phật. Thiếu lòng tin đành chịu thua.

Cho nên, hộ niệm có hai yếu tố quan trọng, một là người lâm chung có Tin Phật hay không? Có quyết tâm niệm Phật đến cùng để tự cầu giải thoát không? Đây là yếu tố quyết định tích cực, còn những lời niệm Phật chung quanh là sự phụ giúp cần thiết để giữ chánh niệm cho người đi. Nếu, chính người ra đi không tin tưởng hoặc tin lấy lệ, thì sự hộ niệm của những người chung quanh có thể trở nên vô ích! Hầu hết những thư của con từ trước tới giờ phải chăng xoay qua xoay lại cũng chỉ để củng cố lòng tin. Hễ cha má TIN vững chắc rồi thì tự nhiên đường giải thoát rõ ràng trước mặt và cha má biết sẽ làm những gì. Chính con đây, là con của cha má, tuổi cũng chưa cao mà con đã chuẩn bị rồi. Con ngày đêm niệm Phật, ngày ngày đều nguyện vãng sanh Tây-phương, con mong cho được cái ngày Phật A-di-đà thọ ký. Ngài thọ ký ngày nào con mừng ngày đó. Ai sợ chết chứ con không sợ chết, con chỉ sợ chết rồi mình có được về Tây-phương với Phật hay không mà thôi. Nếu hiểu rõ được Phật pháp thì cha má sẽ tự tại vô cùng và chắc chắn ngày đêm sẽ không ngừng niệm Phật để tìm đường về với Phật càng sớm càng tốt vậy.

Trở lại chuyện cụ Triệu-Vinh-Phương, tại sao người ta phải tiếp tục hộ niệm tám tiếng đồng hồ sau khi bà vãng sanh? Theo lời pháp của Pháp-Sư Tịnh-Không, Ngài nói khi ra đi có ba diện vãng sanh không trải qua thời gian cách ấm, nghĩa là vừa dứt hơi thở là người đó đi thẳng đến cảnh giới đã định, trường hợp này không cần đến sự hộ-niệm. Ba diện này là:

1) Vãng sanh Tây-phương Cực-lạc;

2) Được sanh về các cõi Trời;

3) Bị đọa Địa-ngục.

Còn những đường khác như tái sanh làm người, lạc vào đường Nga- quỷ, Súc-sanh, đường A-tu-la (Quỷ-Thần) thì con người có thể trải qua một thời gian cách ấm bốn mươi chín ngày rất căng thẳng. Trước khi rơi vào khoảng thời gian cách ấm, thân thể con người vẫn còn cảm xúc tới tám giờ sau khi trút hơi thở cuối cùng. Như vậy rõ ràng một người khi ngưng hơi thở không phải là hết, mà họ vẫn cảm thọ được sự nóng lạnh, đau đớn, âm thanh, cảnh sinh hoạt chung quanh có thể tới tám tiếng đồng hồ mới hoàn toàn chấm dứt. Trong ba giờ đầu họ cảm nhận rất rõ.

Cho nên, người hộ niệm phải hiểu rõ việc này, nếu mới thấy người vừa tắt hơi nhào vô níu kéo, lay động thân thể, khóc kể, la hét, gây lộn xộn chung quanh... sẽ ảnh hưởng rất lớn vào thần thức người ra đi. Xin nhắc lại, giây phút trước và sau khi tắt thở là giai đoạn vô cùng căng thẳng. Người ra đi đang đối đầu với những trạng huống rất lạ và kinh khủng nào là oan-gia, trái-chủ, thù-oán nhiều đời nhiều kiếp nhào vô giựt phần đòi nợ, nào là những cảnh giới vừa thiện vừa ác hiện ra. Là lúc cả một cuộn phim từ nhiều đời nhiều kiếp đang quay lại làm điên đầu người ra đi. (Trong kinh Phật giáo Mật-tông nói rất rõ chuyện này). Trong trạng thái đó nếu thân nhân hiểu Phật pháp một chút, họ có thể xoay trở tình thế, cứu được người thân thoát khỏi nơi hiểm ác, sanh vào cảnh giới tốt bằng cách một lòng thành tâm niêïm Phật phụ trợ người đi. Xui xẻo cho ai không tu hành, không có người hiểu đạo lo liệu, vừa mới ngưng hơi thở chưa kịp nghỉ ngơi thì bị liệng vào nhà xác, bị bác sĩ mổ bung bụng ra khám nghiệm, bị con cháu khóc lóc, kể lể, níu kéo... những hành động này sẽ làm cho người ra đi đau đớn không chịu nổi, bấn loạn đến cùng cực! Nhứt là thời khoảng ngay phút lâm chung và sau vài giờ khi tắt hơi, nếu bị tác động mạnh thì chắc chắn không thể nào được sanh nơi cảnh giới tốt, nếu không nói là bị đoạ vào tam ác đạo tức thì. Chính vì thế, mà phải để yên thân thể, nhẹ nhàng đắp mền cho ấm và thanh tịnh tiếp tục niệm Phật suốt càng lâu càng tốt, tới tám tiếng đồng hồ mới chắc được an toàn là vậy.

Hiểu được chuyện này rồi, bây giờ xin thực lòng xét lại trong ông bà, thân nhân, bà con của mình từ trước tới giờ đã thực hiện được chuyện này chưa? Những người còn sống đến ngày hôm nay đã từng làm điều gì vô ý hại đến người thân của mình không? Trong dòng họ mình liệu có ai đủ điều kiện vãng sanh nơi tốt đẹp chưa?

Thưa cha má, không nêu ra thì thôi, nhưng đã nêu ra thì lòng con cảm thấy đau quặn thắt. Chính vì hiểu được chuyện này đã làm cho con kinh hoàng, giựt mình và ngay lập tức viết thư ngày đêm khuyên cha má và bà con mình mau mau tỉnh ngộ tu hành, mau mau niệm Phật. Con lo ngày lo đêm, lo đến nỗi ăn không ngon khi cha má chưa trực nhận thấy vấn đề, chưa hạ quyết tâm niệm Phật. Ngày nào cha má chưa niệm Phật cầu về Tây-phương, ngày đó con còn kêu nài, năn nỉ, quỳ lạy cha má, con xin lạy cha má cho đến khi nào cha má niệm Phật mới thôi. Cha má cứ nghĩ thử, con ăn học tới đây, con đi đây đi đó tới tuổi này, con lặn lội khắp nơi, con đâu thiếu thốn khổ cực đến nỗi phải bi quan chán đời, thế mà con khuyên cha má đến nỗi muốn rơi máu mắt vì một tiếng niệm Phật thôi, chẳng lẽ con khuyên ẩu, khuyên tả sao! Chẳng lẽ con nghĩ bừa bãi sao! Chẳng lẽ con làm vậy để lấy tiếng sao! Cha má phải thấy rõ ràng rằng chính con đã thấy được đường đi, con đã hiểu rõ được sự giải thoát, con đã thấy rõ sự vi diệu của câu “Vạn-Đức-Hồng-Danh” A-di-đà Phật.

Mỗi lá thư con đưa ra một bằng chứng, mỗi lá thư con kêu đích danh từng người, mỗi lá thư con kể rõ một hiện tuợng vãng sanh về với Phật. Tất cả sự thật đó đều nhằm mục đích cho cha má thấy, hiểu, và TIN TƯỞNG để đi. Hễ đi thì chắc chắn được. Hễ chần chờ dụ dự thì chắc bị đọa lạc, khó tìm con đường nào khác để mơ mộng. Cha má thấy rõ không?

Tóm lại những điều quan trọng của sự hộ niệm:

HỘ-NIỆM có hai vấn đề: TỰ-HỘ và HỘ-NIÊM.

Tự-hộ là tự chính người lâm chung phải một lòng TIN TƯỞNG, phải tự niệm Phật, phải thành tâm cầu xin sanh về thế giới Cực-lạc. Nếu còn khỏe thì niệm Phật ra tiếng theo với người hộ-niệm, nếu yếu thì ráng cố gắng niệm thầm trong tâm. Ráng tối đa đừng để bị mê. Có như vậy thì sự hộ-niệm sẽ thành công dễ dàng.

Hộ-niệm: là người thân, người biết niệm Phật trợ giúp cho người đi giữ chánh niệm. Sự hộ-niệm phải chân thành, thanh tịnh, tránh mọi sự ồn ào, tối kỵ con cái khóc kể, bi lụy trước mặt người ra đi, cấm người ngoài tới thăm hỏi. Nên niệm bốn chữ tốt hơn sáu chữ vì dễ niệm, dễ đạt được mười câu Phật hiệu liên tục trước phút ra đi. (Nhưng cái này cũng tùy thích của đương sự).

Không được đụng chạm mạnh đến thân thể người ra đi, nếu cần, ngay cả cái giường của bệnh nhân cũng không được đụng tới. Có lúc cần giúp đỡ để trở mình thì phải hết sức nhẹ nhàng. Đặt người thân yêu nhất sát bên cạnh để khi có điều trở ngại thì nhắc nhở niệm Phật cầu về Tây-phương, (còn không thì cứ niệm Phật). Nên có một hình Phật A-di-đà để trước mặt người ra đi, và di chuyển sao cho lúc nào cũng thấy được hình Phật. Tuyệt đối không được có tư tưởng cầu sống lại.

Sau khi tắt thở, phải tiếp tục niệm Phật suốt tám giờ nữa là tốt nhứt. Sau thời gian này muốn làm gì làm.

Thưa cha má, những điểm này nên nhớ rõ, nếu trong làng có ai tin tưởng cha má cũng nên giúp họ thực hiện sự hộ niệm. Cứu được một người về tới Tây-phương Cực-lạc thì công đức lớn lắm. Công ơn của mình chắc chắn họ không bao giờ quên. Với năng lực một người ở Tây-phương họ trở lại cứu mình không phải khó khăn đâu. Cứu người tức là cứu chính mình vậy.

Tất cả anh chị em trong nhà, nếu có thương cha má, khi đọc đến những lời này xin tự biết những gì mình cần phải làm. Làm để cứu song thân trả tròn đạo hiếu, làm để tự cứu lấy mình trong mai hậu. Cuộc đời như “mộng huyễn bào ảnh”. Sanh tử, tử sanh là chuyện thường tình, nhưng lại là sự tối trọng đại cho huệ mạng con người. Huệ-mạng không phải là xác thân này đâu. Xác thân chỉ là cái đồ vật ta lượm nó trong tứ đại về dùng mấy chục năm rồi phải liệng. Cho, nên sanh tử không sợ, chỉ sợ tử rồi mình sanh đi đâu. Anh em mình ở xa quá, chỉ thành tâm khuyên tất cả mọi người sớm hồi đầu tỉnh ngộ.

Cầu nguyện Phật lực gia trì cho cha má sớm thức tỉnh sự đời, ngộ được đạo pháp, nhứt hướng chuyên niệm A-di-đà Phật để về được với Phật trong một đời này.

Nam-mô A-di-đà Phật,

Con kính thư.

(Viết xong tại Brisbane 10/8/01) (tiếp theo thư trước)

Trợ-Niệm chính là giúp cho họ khơi dậy câu Phật hiệu. Người Phật tử, bất luận trong lúc bình thường tụng bao nhiêu kinh, niệm bao nhiêu câu chú, khi lâm chung muốn chủng tử Phật xuất hiện, thì duy nhất chỉ có bốn chữ “A-di-đà Phật” mới hữu dụng.

(Ngài Lý-Bỉnh-Nam).

(Còn tiếp)

  Thuvienhoasen

ý kiến bạn đọc
Các tin khác
Đánh giá bài viết
0 Lượt
Cùng tác giả
Từ khóa
Mới nhất
Xem nhiều
© Copyright 2014 Phòng Website Phật Pháp Ứng Dụng - Tu Viện Tường Vân. All Rights Reserved.
Địa chỉ : E4/6 – Nguyễn Hữu Trí – TT. Tân Túc – H.Bình Chánh – TP. HCM
Điện thoại : Văn Phòng Tu Viện Tường Vân (08)62689409 - Phòng Website (08)66758929