TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC

BUDDHIST DICTIONARY
VIETNAMESE-ENGLISH
ENGLISH-VIETNAMESE
SANSKRIT/PALI-VIETNAMESE

THIỆN PHÚC

 PHỤ LỤC (APPENDICES)

 

PHỤ LỤC A—APPENDIX A

NHỮNG KINH PHỔ THÔNG

POPULAR SUTRAS

 

 

 

Kinh A Di Đà: Sukhavati Vyuha Sutra—Một trong ba bộ kinh chủ yếu của trường phái Tịnh Độ. Kinh được Ngài Cưu Ma La Thập dịch sang Hán tự—Sutra of Amitabha—Short form of Amitabha Sutra. One of the three basic sutras of the Pure Land sect. It was translated into Chinese by Kumarajiva.

*Phật thuyết A Di Đà Kinh—The Buddha speaks of Amitabha Sutra:

*Nam Mô Liên Trì Hải Hội Phật Bồ Tát (3 lần)—Namo Sea vast Lotus Pool Assembly of Buddhas and Bodhisattvas (3 times).

*Như thị ngã văn: Nhứt thời Phật tại Xá Vệ Quốc, Kỳ thọ Cấp Cô Độc viên, dữ Đại Tỳ kheo Tăng, thiên nhị bá ngũ thập nhơn câu, giai thị Đại A La Hán, chúng sở tri thức—Thus I have heard, at one time, the Buddha dwelt at Shravasti in Jeta Grove, in the Garden of the Benefactor of Orphans and Solitary, together with a gathering of Great Bhikshus twelve hundred fifty in all, all Great Arhats whom the Assembly knew and recognized:

*Trưởng lão Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha Ca Chiên Diên, Ma Ha Câu Hy La, Li Bà Đa, Châu Lợi Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lô Phả La Đọa, Ca Lưu Đà Di, Ma Ha Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A  Nậu Lâu Đà, như thị đẳng chư đại đệ tử, tinh chư Bồ Tát Ma Ha Tát. Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương tử, A Dật Đa Bồ Tát, Càng Đà Ha Đề Bồ Tát, Thường Tinh Tấn Bồ tát, dữ  như thị đẳng, vô lượng chư thiên, đại chúng câu—Elder Shariputra, Mahamaudgalyayana,    Mahakasyapa, Mahakatyana,   Mahakaushtila, revata, Suddhipanthaka, Nanda, Ananda, Rahula, Gavampati, Pindola Bharadvja, Kalodayin, Mahakaphina, Vakkula, Aniuruddha, and others such as these, all Great Disciples; together with all the Bodhisattvas, Mahasattvas: Dharma Prince Manjushri, Ajita Bodhisattvas,   Gandhastin Bodhisattvas, Nitya   Bodhisattvas, and others such as these, all Great Bodhisatvas and together with Shakra, Chief among Gods, and numberless Great multitudes from all heavens.

*Nhĩ thời Phật cáo Trưởng Lão Xá Lợi Phất: “Tùng thị Tây phương quá thập vạn ức Phật độ, hữu thế giới danh viết Cực Lạc kỳ độ hữu Phật hiệu A Di Đà, kim hiện tại thuyết pháp—At that time the Buddha told the Elder Shariputra: “Passing from here through hundreds of thousands of millions of Buddhalands to the West, there is a world called   Ultimate Bliss. In the land of a Buddha   called Amitabha right now teaches the Dharma.”

*Xá Lợi Phất! Bỉ độ hà cố danh vi Cực Lạc? Kỳ quốc chúng sanh vô hữu chúng khổ, đản thọ chư lạc, cố danh Cực Lạc—Shariputra! For what reason is this land called Ultimate Bliss? All living beings of this country ensure none of the sufferings, but enjoy every bliss. Therefore, it is called Ultimate Bliss.

*Hựu Xá Lợi Phất! Cực Lạc quốc độ

  thất trùng lan thuẩn, thất trùng la võng,  thất trùng hàng thụ, giai thị tứ bảo, châu táp vi nhiễu, thị cố bỉ quốc danh vi Cực Lạc—Moreover, Shariputra! This land of Ultimate Bliss is everywhere surrounded by seven tiers of railings, seven layers of netting and seven rows of trees, all formed from the four treasures and for this reason named Ultimate Bliss.

*Hựu Xá Lợi Phất! Cực Lạc Quốc độ, hữu thất bảo trì, bát công đức thủy, sung mãn kỳ trung, trì để thuần dỉ kim sa bố  địa. Tứ biên giai đạo; kim ngân, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não, nhi nghiêm sức chi. Trì trung liên hoa, đại như xa luân, thanh sắc thanh quang, huỳnh sắc huỳnh quang, xích sắc xích quang, bạch sắc bạch quang, vi diệu hương khiết—Moreover, Shariputra! The land of Ultimate Bliss has pools of the seven jewels, filled with the eight waters of merit and virtue. The bottom of each pool is pure, spread over with golden on the four sides are stairs of gold, silver, lapis lazuli and crystal; above are raised pavilions adored with   gold, silver, lapis lazuli, crystal, mother-of-pearl, red pearls and carnelian. In the pool are lotuses as large as carriage wheels: green colored of green light; yellow colored of yellow light; red colored of red light; white colored of white light; subtly, wonderfully fragrant and pure.

*Xá Lợi Phất! Cực Lạc quốc độ thành tựu như thị công đức trang nghiêm—Shariputra! The realization of the land of Ultimate Bliss is thus meritoriously adorned.     

*Hựu Xá Lợi Phất! Bỉ Phật quốc độ

  thường tác thiên nhạc; huỳnh kim vi địa, trú dạ lục thời, vũ thiên mạn đà la hoa, kỳ độ chúng sanh thường dĩ thanh đán, các dĩ y kích thạnh chúng diệu hoa cúng dường tha phương thập vạn ức Phật, tức dĩ thực thời hườn đáo bổn quốc, phạn thực kinh hành—Moreover, Shariputra! In that Buddhaland there is always   heavenly music and the ground is   yellow gold. In the six periods of the   day and night a heavenly rain of   madarava flower falls, and throughout   the clear morning for each living being of   this land, which sacks full of the myriads of wonderful flowers, makes offerings to the hundreds of thousands of millions of Buddhas of the other directions. At mealtime they return to their own country, after having eaten they stroll around.

*Xá Lợi Phất! Cực Lạc quốc độ thành tựu như thị công đức trang nghiêm. Phục thứ Xá Lợi Phất! Bỉ quốc thường hữu chủng chủng kỳ diệu, tạp sắc chi điểu: Bạch hạc, Khổng tước, Anh võ, Xá lợi, Ca lăng tần già, cọng mạng chi điểu, thị chư chúng điểu, trú dạ lục thời, xuất hòa   nhã âm, kỳ âm diễn xướng: ngũ căn,   ngũ lực, thất bồ đề phần, bát thánh đạo phần, như thị đẳng pháp, kỳ độ chúng sanh văn thị âm dĩ, giai tất niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng—Shariputra! The realization of the land of Ultimate Bliss is thus meritoriously adorned. Moreover, Shariputra! In this country there are always rare and wonderful   varicolored birds: white cranes,   peacocks, parrots, and egrets,   kalavinkas, in the six periods of the day and night, the flocks of birds sing joyful sounds proclaim the five roots, the five powers, the seven bodhi shares, the eight sagely way shares, and Dharma such as these. When living beings of this land hear these sounds, they are all together mindful of the Buddha of the Dharma, mindful of the Sangha. 

*Xá Lợi Phất! Nhữ vật vị thử điểu, thiệt thị tội báo sở sanh. Sở dĩ giả hà? Bỉ Phật quốc độ vô tam ác đạo. Xá Lợi Phất! Kỳ Phật quốc độ thượng vô ác đạo chi danh, hà huống hữu thiệt, thị chư chúng điểu, giai thị A Di Đà Phật dục linh pháp âm tuyên lưu biến hóa sở tác—Shariputra! Do not say that these birds are born as retribution for their karmic offenses. For what reason? In this Buddhaland there are no three evil ways of rebirth. Shariputra! In this   Buddha-land not even the names of the three evil ways exists, how much the less their actuality I desiring that the Dharma sound be widely proclaimed, Amitabha Buddha by transformation made this multitude  of birds.     

*Xá Lợi Phất! Bỉ Phật quốc độ vi phong xuy động, chư bảo hàng thọ, cập bảo la  võng, xuất vi diệu âm, thí như bá thiên chủng nhạc đồng thời cu tác, văn thị âm giả, tự nhiên giai sanh: niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng chi tâm—Shariputra! In that Buddha-land, when the soft wind   blows, the rows of jewelled trees and   jewelled nets, give forth subtle and   wonderful sounds, like one hundred   thousand kinds of music played at the   same time. All those who hear this   sound naturally bring forth in their   hearts mindfulness of the Buddha,   mindfulness of the Dharma, and   mindfulness of the Sangha.

*Xá Lợi Phất! Kỳ Phật quốc độ, thành tựu như thị công đức trang nghiêm. Xá Lợi Phất! Ư nhữ ý vân hà? Bỉ Phật hà cố hiệu A Di Đà? Xá Lợi Phất! Bỉ Phật quang minh vô lượng, chiếu thập phương quốc, vô sở chướng ngại, thị cố hiệu vi A Di Đà—Shariputra! The realization of the land of Ultimate Bliss is thus meritoriously adorned. Shariputra! What do you think? Why is this   Buddha called Amitabha? Shariputra    The brilliance of that Buddha’s light is measureless, illuminating the lands of ten directions everywhere without   obstruction; for this reason he is alled

Amitabha. 

*Hựu Xá Lợi Phất! Bỉ Phật thọ mạng,  cập kỳ nhân dân, vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp, cố danh A Di Đà.

  Xá Lợi Phất! A Di Đà Phật thành Phật dĩ lai, ư kim thập kiếp. Hựu Xá Lợi Phất! Bỉ Phật hữu vô lượng vô biên Thinh văn đệ tử, giai A La Hán, phi thị toán số, chi sở năng tri; chư Bồ Tát chúng diệc phục như thị. Xá Lợi Phất! Bỉ Phật quốc độ thành tựu   như thị công đức trang nghiêm. Hựu Xá Lợi Phất! Cực Lạc quốc độ   chúng sanh sanh giả, giai thị a bệ bạt trí, kỳ trung đa hữu nhứt sanh bổ xứ, kỳ số thậm đa, phi thị toán số, sở năng tri chi, đản khả dĩ vô lượng vô biên a tăng kỳ thuyết.

Xá Lợi Phất! Chúng sanh văn giả, ưng đương phát nguyện, nguyện sanh bỉ quốc. Sở dĩ giả hà? Đắc dữ như thị chư thượng thiện nhân câu hội nhứt xứ.

Xá Lợi Phất! Bất khả dĩ thiểu thiện căn phước đức nhân duyên, đắc sanh bỉ quốc.

Moreover, Shariputra! The life of that Buddha and that of his people extends for measureless limitless asankhyeya kalpas. For this reason he is called Amitayus. And Shariputra! since Amitabha realized Buddhahood, ten kalpas have passed.

Moreover, Shariputra!  That Buddha has measureless, limitless Sound-hearer disciples, all Arhats, their number incalculable; thus also is the Assembly  of Bodhisattvas.

Shariputra! The realization of the land of Ultimate Bliss is thus meritoriously adorned.

Moreover, Shariputra! Those living beings   born in the land of Ultimate Bliss are all Avaivartika. Among them are many who in this very life will dwelt in Buddhahood. Their number is extremely many; it is incalculable and only in measureless, limitless asankhyeya kalpas could it be spoken. Shariputra! Those living beings who hear should vow, “I wish to be born in that country.” And why? All those who thus attain are all superior and good people, all coming together in one place.

  Shariputra! One cannot have few good roots, blessings, virtues, and causal connections to attain birth in that land.  

*Xá Lợi Phất! Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, văn thuyết A Di Đà Phật, chấp trì danh hiệu, nhược nhứt nhựt, nhược nhị nhựt, nhược tam nhựt, nhược tứ nhựt, nhược ngũ nhựt, nhược lục nhựt, nhược thất nhựt, nhứt tâm bất loạn. Kỳ nhơn lâm mạng chung thời, A Di Đà Phật dữ chư Thánh chúng, hiện tại kỳ tiền, thị nhơn chung thời, tâm bất điên đảo, tức đắc vãng sanh A DI Đà Phật Cực Lạc quốc độ.

     Shariputra! If there is a good man or  woman who hears spoken Amitabha and holds the name, whether for one day,  two days, three days, four days, five days, six days, as long as seven days, with one heart unconfused, when this person approaches the end of life, before him will appear Amitabha and all the Assembly of holy ones. When the end comes, his heart is without inversion; in Amitabha’s land of Ultimate bliss he will attain rebirth.

*Xá Lợi Phất! Ngã kiến thị lợi, cố thuyết thử ngôn, nhược hữu chúng sanh văn thị thuyết giả, ưng đương phát nguyện, sanh bỉ quốc độ.

  Shariputra! Because I see this benefit, I speak these words: “If living beings hear this spoken they should make the vow, “I wish to be born in that land.”

*Xá Lợi Phất! Như ngã kim giả, tán thán  A Di Đà Phật bất khả tư nghị công đức chi lợi.

     Shariputra! As I now praise the inconceivable benefit from the merit and virtue of Amitabha.

*Đông phương diệc hữu A Súc Bệ Phật, Tu Di Tướng Phật, Đại Tu Di Phật, Tu Di Quang Phật, Diệu Âm Phật; như  thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thiệt ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị, xưng tán bất khả tư nghì công đức nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm kinh.”

  Thus in the East are also Aksobhya

Buddha, Sumeru Appearance Buddha, Great Sumeru Buddha, Sumeru Light Buddha, Wonderful Sound Buddha; all Buddhas such as these, numberless as ganges sands, in his own country each brings  forth the appearance of a vast and long tongue. Everywhere covering the three thousand great thousand worlds (great cosmos), and speaks the sincere and actual words, “All you living beings should believe, praise and hold in reverence the inconceivable merit and virtue of this  sutra of the mindful one of whom all are Buddhas are protective.”

*Xá Lợi Phất! Nam phương thế giới hữu Nhựt nguyệt Đăng Phật, Danh Văn Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tu Di Đăng Phật, Vô Lượng Tinh Tấn Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thiệt ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị, xưng tán bất khả tư nghì công đức nhứt thiết chư Phật   sở hộ niệm kinh.”

  Shariputra! In the Southern World are Sun-Moon-Lamp Buddha, Well-Known Light Buddha, Great-Blazing Shoulder Buddha, Sumeru-Lamp-Buddha, Measureless Vigor-Buddha; all Buddhas such as these, numberless as ganges sands. In his country, each bring forth the appearance of a vast and long tongue, everywhere covering the three thousand great thousand worlds (great cosmos), and speaks the sincere and actual words, “All living beings should believe, praise and hold in reverence the inconceivable    merit and virtue of this sutra of the   mindful one of whom all Buddhas are   protective.”

*Xá Lợi Phất! Tây phương thế giới hữu Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Tướng Phật, Vô Lượng Tràng Phật, Đại Quang Phật, Đại Minh Phật, Bảo Tướng Phật, Tịnh Quang Phật; như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thiệt ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị, xưng tán bất khả tư nghì công đức nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm kinh.”

  Shariputra! In the Western World are Measureless-Life Buddha, Measureless-Appearance Buddha, Measureless-Curtain Buddha, Great-Light Buddha, Great Brightness Buddha, Jewelled-Appearance Buddha, Pure-Light Buddha; all Buddhas such as these, numberless as ganges sands. In his own country each brings forth the appearance of a vast and long tongue, everywhere   covering the three thousand great   thousand worlds (great cosmos), and speaks the sincere and actual words, “All you living beings should believe, praise and hold in reverence the inconceivable merit and virtue of this sutra of the mindful one of whom all Buddhas are protective.”

*Xá Lợi Phất! Bắc phương thế giới hữu Diệm Kiên Phật, Tối Thắng Âm Phật, Nan Trở Phật, Nhựt Sanh Phật, Võng Minh Phật; như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thiệt ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị xưng tán bất khả tư nghì công đức nhất thiết chư Phật sở hộ niệm kinh.”

  Shariputra! In the Northern World are Blazing-Shoulders Buddha, Most-Victorious-Sound Buddha, Hard-To-Injure Buddha, Sun-Birth Buddha, Net-Brightness Buddha; all Buddhas such as these, numberless as ganges sands. In his country each brings forth the appearance of a vast and long tongue, everywhere covering the three thousand great thousand worlds (great cosmos), and speaks the sincere and actual words, “All you living beings should believe, praise and hold in reverence the inconveivable merit and virtue of this sutra of the mindful one of   whom all Buddhas are protective.”

*Xá Lợi Phất! Hạ phương thế giới hữu Sư Tử Phật, Danh-Văn Phật, Danh Quang Phật, Đạt Ma Phật, Pháp Tràng Phật, Trì Pháp Phật, như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thiệt ngôn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị, xưng tán bất khả tư nghì công đức nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm kinh.”

  Shariputra! In the world below are Lion-Buddha, Well-Known Buddha, Famous-Light Buddha, Dharma Buddha, Dharma-Curtain Buddha, Dharma-Maintaining Buddha, all Buddhas such as these, numberless as ganges sands. In his own country, each brings forth the appearance of a vast and long tongue, everywhere covering the three thousand great thousand worlds (great cosmos), and speaks the  sincere and actual words: “All you living beings should believe, praise and hold in reverence the inconceivable merit and virtue of this sutra of the mindful one of whom all Buddhas are protective.”   

*Xá Lợi Phất! Thượng phương thế giới hữu Phạm Âm Phật, Tú Vương Phật, Hương Thượng phật, Hương Quang Phật, Đại Diệm Kiên Phật, Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân Phật, Ta La Thọ Vương Phật, Bảo Hoa Đức Phật, Kiến Nhứt Thiết Nghĩa Phật, Như Tu Di Sơn Phật; như thị đẳng hằng hà sa số chư Phật, các ư kỳ quốc, xuất quảng trường thiệt tướng, biến phú tam thiên đại thiên thế giới, thuyết thành thiệt ngộn: “Nhữ đẳng chúng sanh đương tín thị, xưng tán  bất khả tư nghì công đức nhứt thiết chư  Phật sở hộ niệm kinh.”

  Shariputra! In the world above are Pure-Sound Buddha, King-Of-Stars Buddha, Superior-Fragrance Buddha,   Fragrant-Light Buddha, Great-Blazing-Shoulder Buddha, Varicolored-Jewelled-And-Flower-Adornment Buddha, Sal King Buddha, Jewelled-Flower-Virtue-Buddha, Vision-Of-All-Meaning Buddha, Such-As-Mount  Sumeru Buddha; all Buddhas such as these, numberless as ganges sands. In his country each brings forth the   appearance of a vast and long tongue,   everywhere covering the three thousand great thousand worlds (great cosmos) and speaks the sincere and actual words: “All you living beings should believe, praise and hold in reverence the inconceivable merit and virtue of this sutra of the mindful one of whom all Buddhas are protective.”

*Xá Lợi Phất! Ư nhữ ý vân hà? Hà cố danh vi: Nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm kinh?

  Shariputra! What do you think? Why is it called sutra of the mindful one of whom all Buddhas are protective?      

*Xá Lợi Phất! Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhơn văn thị kinh thọ trì giả, cập văn chư Phật danh giả, thị chư thiện  nam tử, thiện nữ nhân giai vi nhứt thiết chư Phật sở hộ niệm, giai đắc bất thối chuyển ư a-nậu-đa-la tam miệu tam bồ đề. Thị cố Xá Lợi Phất! Nhữ đẳng giai đương tín thọ ngã ngữ, cập chư Phật sở thuyết.

  Shariputra! If a good man or a good woman hears this sutra and holds to it, and hears the names of all these   Buddhas, this good man or good woman will be the mindful one of whom all Buddhas are protective, and will irreversibly attain to annutttara-samyak-sambodhi. Therefore, Shariputra, all of you should believe and accept my works, and those which all Buddhas speak.

*Xá Lợi Phất! Nhược hữu nhơn dĩ phát nguyện, kim phát nguyện, đương phát nguyện, dục sanh A Di Đà Phật quốc giả, thị chư nhơn đẳng giai bất thối chuyển ư a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, ư bỉ quốc độ nhược dĩ sanh, nhược kim sanh, nhược đương sanh.

  Shariputra! If there are people who have already made the vow, who now made the vow, or who are about to make the vow, “I desire to be born in Amitabha’s country,” these people whether born in the past, now being   born, or to be born in the future, all ill

irreversibly attain annuttara-Samyak-Sambodhi.

*Thị cố Xá Lợi Phất! Chư thiện nam tử,  thiện nữ nhơn, nhược hữu tín giả, ưng đương phát nguyện sanh bỉ quốc độ. Therefore, Shariputra! All good men and good women, if they are among those who have faith, should make the vow, “I will be born in that country.”

*Xá Lợi Phất! Như ngã kim giả xưng tán chư Phật bất khả tư nghì công đức, bỉ chư Phật đẳng, diệc xưng tán ngã bất khả tư nghì công đức nhi tác thị ngôn: Thích Ca Mâu Ni Phật năng vi thậm nan hy hữu chi sự, năng ư Ta bà quốc độ ngũ trược ác thế; kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược trung đắc A nậu đa la Tam miệu tam bồ đề, vị chư chúng sanh, thuyết thị nhứt thiết thế gian nan tín chi pháp.

  Shariputra! Just as I am now one who praises the merit and virtue of all 

Buddhas. All those Buddhas equally praise my inconceivable merit and    virtue saying these words: “Sakyamuni  Buddha can complete extremely rare and difficult deeds, in the Saha Land, in the evil time of the five turbidities, in the  midst of kalpa turbidity, the view turbidity, the affliction turbidity, the living beings

 turbidity, and the life turbidity, he can attain Annuttara-Samyak-Samboddhi and for  the sake of living beings, speak this Dharma which in the whole world is hard to believe.

*Xá Lợi Phất! Đương tri ngã ư ngũ trược  ác thế, hành thử nan sự, đắc A nậu đa la Tam miệu tam bồ đề, vị nhứt thiết thế gian thuyết thử nan tín chi pháp, thị vi thậm nan.

Sariputra! For the people of the defiled world, I preached unbelievable and difficult-to- practice dharmas.

*Phật thuyết thử kinh dĩ, Xá Lợi Phất cập chư Tỳ kheo, nhứt thiết thế gian, Thiên, Nhơn, A-tu-la đẳng, văn Phật sở thuyết, hoan hỷ tín thọ tác lễ nhi khứ.

After the Buddha spoke this sutra, Shariputra and all the Bhiksus, all the Gods, Human and Asuras, and others from all the worlds, hearing what the Buddha had said, joyously welcome, faithfully accepted, bowed and withdrew.

Phật thuyết A Di Đà Kinh.

The Buddha speaks of Amitabha Sutra.

 

 

Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh: The Prajna Paramita Heart Sutra—See Tâm Kinh (Heart Sutra).

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm Phổ Môn: Lotus Sutra, The Chapter on the Universal Gateway of Avalokitesvara Bodhisattva.

---Bấy giờ Ngài Vô Tận Ý quỳ gối chắp tay bạch với Phật rằng: “Vì nhơn duyên gì mà người thế gian gọi Bồ Tát này là Quán Thế Âm, xin Đức Thế Tôn mở lòng chỉ giáo.

At this time, Aksayamati Bodhisattva rose from his seat, bared his right shoulder, joined his palms and asked the Buddha, “Bhagavan! Why is Avalokitesvara Bodhisatva called the Hearer of all sounds?”

---Đức Phật liền bảo Vô Tận Ý: “Thiện nam tử! Nếu có vô lượng trăm nghìn muôn ức chúng sanh chịu ác khổ não, nghe Quán Thế Âm một lòng xưng danh. Quán Thế Âm tức thời xem xét tiếng tăm kia, đều được giải thoát. 

Buddha discoursed to Aksayamati Bodhisattva, “Good man, Countless individuals are suffering from pain and torment. If they have heard of Avalokitesvara Bodhisattva, and single-mindedly call upon him. Avalokitesvara will heed their cry. They shall all gain deliverance.

---Nếu có người trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát này, dầu vào trong lửa lớn, lửa chẳng cháy được, vì do sức uy thần của Bồ Tát nầy mà được như vậy.

For those who hold on to Avalokitesvara’s name, in the midst of fire, they will not be burnt. It is all because of Avalokitesvara’s miraculous power.

—Nếu bị nước lớn làm trôi, xưng danh hiệu Bồ tát này liền được chỗ cạn.

Even  when one is carried off by a strong current, calling upon his name, one will find a shallow shore.

—Nếu có trăm nghìn muôn ức chúng sanh vì tìm vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, trân châu các thứ báu, vào trong biển lớn, giả sử gió lớn thổi trôi ghe thuyền tắp vào nước quỷ, Nếu có người trong nhóm xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, thời các người đó đều thoát nạn quỷ. Do nhân duyên đó mà tên là Quán Thế Âm.

If a trillion individuals, in the quest for gold, silver, crystal, lapis, agate, coral, opal and pearls, venture into the open sea, a storm pushes them to the land of demons. If one among them calls upon Avalokitesvara Bodhisattva, they shall all be saved. It is for this reason, Avalokitesvara is called the Hearer of all Sounds.

—Nếu lại có người sắp bị hại, xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, thời dao gậy của người cầm liền gẩy từng khúc, người ấy được thoát khổ.

When one is about to be killed, and calls upon Avalokitesvara Bodhisattva, the foe’s weapon shall be shattered to pieces. One shall be spared.

---Nếu quỷ dạ xoa cùng la sát đầy trong cõi tam thiên  đại thiên muốn đến hại người, nghe nguời xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, thời các quỷ dữ đó còn không có thể dùng mắt dữ mà nhìn người, huống lại làm hại được.

If demons from the whole universe gather and wish to harm one, by the name of Avalokitesvara Bodhisattva alone, demons cannot even give and evil eye, how much less inflict actual harm?

---Dầu lại có người hoặc có tội, hoặc không tội, gông cùm xiềng xích trói buộc nơi thân, xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát thảy đều đứt rã, liền được thoát khỏi.

If one, whether guilty or not, is jailed and in shackles, and calls upon Avalokitesvara Bodhisattva, the shackles shall be broken. One is liberated and free.

---Nếu kẻ oán tặc đầy cõi tam thiên đại thiên, có một vị thương chủ dắt các người buôn đem theo nhiều của báu, trải qua nơi đường hiểm trở, trong đó có một người xướng rằng: “Các thiện nam tử! Chớ nên sợ sệt, các ông nên phải một lòng xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, vị Bồ tát đó hay đem pháp vô úy thí cho chúng sanh, các ông nếu xưng danh hiệu thời sẽ được thoát khỏi oán tặc nầy.”

If bandits from the entire universe go after a convoy carrying many valuables, one merchant amongst them says: “Good men! Have no fear, you should pray to Avalokitesvara Bodhisattva. This Bodhisattva can  confer courage upon you. Those who call upon his name shall be saved from the bandits.” Hearing this, the merchants all chant, “Let’s take refuge in Avalokitesvara Bodhisattva!” By this act, they are all saved.  

Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ tát Ma Ha Tát oai thần chi lực!

Aksayamati! Avalokitesvara Bodhisattva Mahasattva is indeed powerful!

---Nếu có chúng sanh nào nhiều lòng dâm dục, thường cung kính niệm quán Thế Âm Bồ tát, liền được ly dục.

If one who is addicted to sexual desires prays sincerely to Avalokitesvara Bodhisatva, one will be detached from desire.

---Nếu người nhiều giận hờn, thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ tát, liền được ly dục.

If one who is full of hatred prays sincerely to Avalokitesvara Bodhisattva, one will be detached from anger.

---Nếu người nhiều si ngu si, thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ tát, liền được lìa ngu si.

If one who is ignorant prays sincerely to Avalokitesvara Bodhisattva, one is liberated from ignorance.

---Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ Tát có những sức uy thần lớn, nhiều lợi ích như thế, cho nên chúng sanh thường phải một lòng tưởng nhớ.

Aksayamati! Avalokitesvara Bodhisattva, is very powerful and benevolent. Therefore, all beings should be mindful of him.

---Nếu muốn hậu vận còn được lâu dài, cầu sanh con trai để mà nối dõi, chí thành đảnh lễ Bồ tát Quán Âm, nhờ Đại Bi tâm mà sanh nam tử đức tài đầy đủ, đáng bậc anh hùng. Nếu phận má hồng, muốn cầu con gái, chí thành lễ bái Bồ Tát Quán Âm thì cũng được sanh hằng nga tiên nữ, sắc tài đầy đủ, đức hạnh vô song. 

If a woman wish to have a son, prostrates and makes offerings to Avalokitesvara Bodhisatva, a son of excellence and wisdom shall be born. If she wishes to have a daughter, a daughter of grace and beauty shall be born.

---Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ tát có sức thần như thế.

Aksayamati! Avalokitesvara Bodhisattva possesses all these powers.

---Nếu có chúng sanh cung kính lễ lạy Quán Thế Âm Bồ tát, thời phúc đức chẳng luống mất. Cho nên chúng sanh đều phải thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát.

If an individual will prostrate to Avalokitesvara Bodhisattva respectfully, one will have acquired endless merit. For this reason, everyone should hold on to Avalokitesvara Bodhisattva’s name.

---Vô Tận Ý! Nếu có nguời thọ trì danh tự của sáu mươi hai ức hằng hà sa Bồ Tát lại trọn đời cúng dường đồ ăn uống y-phục, giường nằm, thuốc thang. Ý ông nghĩ sao? Công đức của người thiện nam tử, thiện nữ nhân đó có nhiều chăng?

Aksayamati! If someone holds on to the names of Bodhisattvas numbered equal to the grains in sixty-two trillion Ganges Rivers, offers them food, clothing, lodging, medicine as long as they live, what do you think, does this good man or woman acquire much merit?

---Vô Tận Ý thưa: “Bạch Thế Tôn! Rất nhiều.”

Aksayamati replied, “Very much indeed, Bhagavan.”

---Phật nói: “Nếu lại có người thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, nhẫn đến một thời lễ lạy cúng dường, thời phúc của hai người đó bằng nhau không khác, trong trăm nghìn muôn ức kiếp không thể cùng tận.

The Buddha said, “If another person holds on to Avalokitesvara Bodhisatva’s name, making prostrations and offerings for just a moment, the merit between these two people are identical. For a hundred thousand million trillion kalpa, the merit  will still not be exhausted.

---Vô Tận Ý! Thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát được vô lượng vô biên phúc đức lợi ích như thế.

Aksayamati! Holding on to Avalokitesvara Bodhisattva’s name has the reward of boundless and countless merit.

---Ngài Vô Tận Ý Bồ tát bạch Phật rằng: “Thế Tôn Quán Thế Âm Bồ tát dạo đi trong cõi ta bà như thế nào? Sức phương tiện việc đó thế nào?

Aksayamati Bodhisattva further asked the Buddha, “Bhagavan! How does Avalokitesvara Bodhisattva venture about the Saha world? How does he preach Dharma to all? As for his skillful means, what is the manner of it?

---Phật bảo Vô tận Ý Bồ Tát: “ Thiện nam tử! Nếu có chúng sanh trong quốc độ nào đáng dùng thân Phật được độ thoát thời Quán Thế Âm Bồ tát liền hiện thân Phật mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân Duyên Giác được độ thoát, liền hiện thân Duyên Giác mà vì đó nói pháp. Người đáng dùng thân Thanh văn được độ thoát, liền hiện thân Thanh văn mà vì đó nói pháp. 

The Buddha discoursed to Aksayamati Bodhisattva, “Good men, if there are beings who will be illuminated by Buddhas, Avalokitesvara Bodhisattva will preach Dharma to them in the form of a Buddha. If one is to be illuminated by Pratyeka Buddhas, he will preach in the form of a Pratyeka Buddha. If one is to be illuminated by Sravakas, he will preach in the form of a Sravaka.

---Người đáng dùng thân Phạm vương được độ thoát, liền hiện thân Phạm vương mà vì đó nói pháp.

If one is illuminated by a Brahma god, he will preach in the form of a Brahma god.

---Người đáng dùng thân Đế thích được độ thoát, liền hiện thân Đế thích mà vì đó nói pháp.

If one If one is to be illuminated by a Sakra god, he will preach in the form of a Sakra god.

---Người đáng dùng thân Tự Tại Thiên được độ thoát, liền hiện thân Tự Tại Thiên mà vì đó nói pháp.

If one is to be illuminated by a Nirmanarati god, he will preach in the form of a Nirmanarati god.        

---Người đáng dùng thân Đại Tự Tại Thiên được độ thoát, liền hiện thân Đại Tự Tại Thiên mà vì đó nói pháp.

If one is to be illuminated by a Patanirmitavasavartin god, he wil preach in the form of a Patanirmitavasavartin god.

---Người đáng dùng thân Thiên Đại Tướng quân được độ thoát, liền hiện thân Thiên Đại tướng quân mà vì đó nói pháp.

If one is to be illuminated by a Caturmahvajakayikadeva, he will preach in the appearance of a Caturmahvajakayikadeva god.

---Người đáng dùng thân tỳ sa môn được độ thoát, liền hiện thân tỳ sa môn mà vì đó nói pháp.

If one is to be illuminated by a Virsravana, he will preach in the form of a Virsravana.

---Người đáng dùng thân Tiểu vương được độ thoát, liền hiện thân Tiểu vương mà vì đó nói pháp.

If one is to be illuminated by a king, he will preach in the form of a king.

---Người đáng dùng thân trưởng giả, liền hiện thân trưởng giả mà vì đó nói pháp.

If one is to be illuminated by an elder, he will preach in the form of an elder.

---Người đáng dùng thân cư sĩ được độ thoát, liền hiện thân cư sĩ  mà vì đó nói pháp.

If one is to be illuminated by a lay person, he will preach in the form of a lay person.

---Người đáng dùng thân Tể quan được độ thoát, liền hiện thân Tể quan mà vì đó nói pháp.

If one is to be illuminated by an official, he will preach in the form of an official.

---Người đáng dùng thân Bà la môn được độ thoát, liền hiện thân Bà la môn mà vì đó nói pháp.

If one is illuminated by a Brahma priest, he will preach in the form of a Brahma priest.

---Người đáng dùng thân tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di được độ thoát, liền hiện thân tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di mà vì đó nói pháp.

If one is to be illuminated by a bhikshu, bhikshuni, upasaka, upasika, hw will preach in the form of a bhikshu, bhikshuni, upasaka, upasika.

---Người đáng dùng thân phụ nữ của trưởng giả, cư sĩ, tể quan, bà la môn được độ thoát, liền hiện thân phụ nữ mà vì đó nói pháp.

If one is to be illuminated by the wife of an elder, lay person, official, or Brahma priest, he will preach in the form of a woman.

---Người đáng dùng thân đồng nam đồng nữ được độ thoát, liền hiện thân đồng nam đồng nữ, mà vì đó nói pháp.

If one is to be illuminated by a boy or girl, he will preach in the form of a boy or girl.

---Người đáng dùng thân Trời, Rồng, Dạ xoa, Càng thát bà, A tu la, Ca Lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, nhân cùng phi nhân được độ thoát, liền đều hiện ra mà vì đó nói pháp.

If one is to be illuminated by Deva, Naga, Yaksa, Gandharva, Asura, Garuda, Kinnara, Mahoraga, human and spirits, he will preach in the appropriate forms.

---Người đáng dùng thân Chấp kim cang thần được độ thoát, liền hiện Chấp kim cang thần mà vì đó nói pháp.

If one is to be illuminated by a Vajrapani, he will preach in the form of a Vajrapani.

---Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ tát đó thành tựu công đức như thế, dùng các thân hình, dạo đi trong các cõi nước để độ thoát chúng sanh, cho nên các ông phải một lòng cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát.

Aksayamati! Avalokitesvara Bodhisattva has achieved such merit and virtues. In different forms, he ventures across the lands, bringing emancipation to all. For this reason, you all should single-mindedly make offerings to Avalokitesvara Bodhisattva.

---Quán Thế Âm Đại Bồ Tát đó ở trong chỗ nạn gấp sợ sệt hay ban sự vô úy, cho nên cõi Ta bà nầy đều gọi Ngài là vị Thí Vô úy.

In the midst of danger, Avalokitesvara Bodhisattva Mahasattva can confer on you courage and security. Therefore, in this Saha World, he is also known as the “Giver of Courage.”

---Vô Tận Ý Bồ Tát bạch Phật: “Thế Tôn! Con nay phải cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát, liền mở chuỗi ngọc bằng các châu báu nơi cổ giá trị trăm ngàn lượng vàng, đem trao cho ngài Quán Thế Âm mà nói rằng: “Xin ngài nhận chuỗi trân bảo pháp thí nầy.”

Akasayamati Bodhisattva proclaimed to the Buddha, “Bhagavan! I should now make offerings to Avalokitesvara Bodhisattva.” He then took off a necklace of gems and garlands, valued at a million ounces of gold, and presented it as a gift, saying: “Sir! Please accept this Dharma offering of gems and garlands.”

---Khi ấy Quán Thế Âm Bồ Tát chẳng chịu nhận chuỗi. Ngài Vô Tận Ý lại thưa cùng Quán Thế Âm rằng: “Xin ngài vì thương chúng tôi mà nhận chuỗi ngọc nầy.”

At first, Avalokitesvara Bodhisattva declined the gift. Aksayamati Bodhisattva insisted and said to Avalkitesvara Bodhisattva, “Sir! For our sake, please do accept this garland.”

---Bấy giờ Phật bảo Quán Thế Âm Bồ Tát: “Ông nên thương Vô Tận Ý Bồ Tát này và hàng tứ chúng cùng Trời, Rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, nhân và phi nhân… mà nhận chuỗi ngọc đó.

At this point, the Buddha said to Avalokitesvara Bodhisattva, “For the sake od Aksayamati Bodhisattva, the disciples, Devas, Negas, Yaksas, Gandharvas, Asuras, Garudas, Kinnaras, Mahoragas, Humans and Spirits, you should accept the garland.”            

---Tức thời Quán Thế Âm Bồ Tát thương tứ chúng và Trời, Rồng, nhân, phi nhân…mà nhận chuỗi ngọc đó chia làm hai phần: một phần dâng Đức Thích Ca Mâu Ni Phật, một phần dâng tháp của Phật Đa Bảo.

Avalokitesvara Bodhisatva, for the sake of Aksayamati Bodhisattva, the disciples, Devas, Negas, Yaksas, Gandharvas, Asuras, Garudas, Kinnaras, Mahoragas, Humans and Spirits, accepted the garland. He then divided it into two. One portion is offered to Sakyamuni Buddha. The other is offered to the stupa of the Prabhutaratna Buddha.

---Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ tát có sức thần tự tại như thế, dạo đi nơi cõi Ta bà.”

Aksayamati Bodhisattva! Avalokitesvara Bodhisattva has such unobstructed magical power and ventures about in the Saha World. At that time, Aksayamati Bodhisattva asked again in verse:

Thế Tôn đủ tướng tốt!

Bhagavan, the one endowed

with all the holy marks

Con nay lại hỏi kia

Might I ask thou once more

Phật tử nhân duyên gì

Why is this son of the Buddha

Tên là Quán Thế Âm?

Called the Hearer of all Sounds?

Đấng đầy đủ tướng tốt

The holder of all holy marks

Kệ đáp Vô Tận Ý:

Replied in rhymes to Aksayamati:

Ông nghe hạnh Quán Âm

Watch carefully

Avalokitesvara’s deeds

Khéo ứng các nơi chỗ

He responds as well in all situations

Thệ rộng sâu như biển

His vows are as deep as an ocean

Nhiều kiếp chẳng nghĩ bàn

Unimaginable through the kalpas

Hầu nhiều nghìn Đức Phật

He has served trillions of Buddhas

Phát nguyện thanh tịnh lớn.

And pledged profound

and pious vows

Ta vì ông lược nói

I will make it brief

Nghe tên cùng thấy thân

Hearing his name or

seeing his image

Tâm niệm chẳng luống qua

Even for a short time is rewarding

Hay diệt khổ các cõi.

It can extinguish all sufferings.

Giả sử sinh lòng hại

If someone is malicious

Xô rớt hầm lửa lớn

Pushing one into a fire pit

Do sức niệm Quán Âm

And one is mindful of

Avalokitesvara’s power

Hầm lửa biến thành ao.

The fire pit can turn into a pond

Hoặc trôi dạt biển lớn

If someone is drifting in the ocean

Các nạn quỷ, cá, rồng

And surrounded by dragons, sharks

And demons

Do sức niệm Quán Âm

Mindful of Avalokitesvara’s power

Sóng mòi chẳng chìm được.

One will not be drown.

Hoặc ở chót Tu Di

Bị người xô rớt xuống

If one is being pushed off the peak

of  Sumeru

Do sức niệm Quán Âm

And one is mindful of

Avalokitesvara’s power

Như mặt nhật treo không

One  can float in the sky like the sun

Hoặc bị người dữ rượt

If chased by an enemy

Rớt xuống núi Kim cang

And cast off a diamond peak

Do sức niệm Quán Âm

One is mindful of Avalokitesvara’s

power

Chẳng tổn đến mảy lông.

He will not even be scratched.

Hoặc gặp oán tặc vây

If surrounded by enemies

Đều cầm dao làm hại

With knives and about

to be attacked

Do sức niệm Quán Âm

One is mindful of Avalokitesvara’s

power

Đều liền sinh lòng lành.

They will have tender hearts

Hoặc bị khổ nạn vua

Khi hành hình sắp chết

If persecuted by the courtis

imminent

Do sức niệm Quán Âm

One is just mindful of

Avalokitesvara’s power

Dao liền gảy từng đoạn.

The knives will be shattered to

pieces

Hoặc tù cấm xiềng xích

If jailed an in chains

Tay chân bị gông cùm

Both arms and legs shackled

Do sức niệm Quán Âm

One is mindful of Avalokitesvara’s

power

Tháo rã được giải thoát

One will gain release

Nguyền rũa các thuốc độc

If cursed or poisoned

Muốn hại đến thân đó

The one in danger

Do sức niệm Quán Âm

Is mindful of Avalokitesvara’s

power

Trở hại nơi bổn nhân.

The spell shall be sent back.

Hoặc gặp La sát dữ

If encountered by demons

Rồng độc các loài quỷ

Dragons or ghosts

Do sức niệm Quán Âm

One is just mindful of

Avalokitesvara’s power

Liền đều không dám hại.

They will not dare to do any harm

Hoặc thú dữ gây quanh

If circled by wild beasts

Nanh vút nhọn đáng sợ

Threatened by sharp claws and

teeth

Do sức niệm Quán Âm

One is mindful of Avalokitesvara’s

power

Vội vàng bỏ chạy thẳng.

They will run off and disappear.

Rắn độc cùng bò cạp

There may be snakes or scorpions

Hơi độc khói lửa đốt

With poisonous venom

Do sức niệm Quán Âm

One is just mindful of

Avalokitesvara’s power

Theo tiếng tự bỏ đi.

And they will scatter by themselves.

Mây sấm nổ sét đánh

If the heaven roars with thunder

Tuôn giá xối mưa lớn

Hail and rain pours down

Do sức niệm Quán Âm

One is mindful of Avalokitesvara’s

power

Liền được tiêu tan cả.

The sky turns clear.

Chúng sanh bị khổ ách

If beings are all in confinement

Vô lượng khổ bức thân

And pressed upon by countless pain

Quán Âm sức trí diệu

Avalokitesvara has great wisdom

Hay cứu khổ thế gian

To emancipate all earthly sufferings

Đầy đủ sức thần thông

Full endowed with magical powers

Rộng tu trí phương tiện

He knows all expedient means

Các cõi nước mười phương

In all lands and in all dimensions

Không cõi nào chẳng hiện.

He manifests everywhere

Các loài trong đường dữ:

In all evil realms:

Địa ngục, quỷ, súc sanh

Such as hell, ghost and animal

Sinh, già, bịnh, chết, khổ

Facing pain of birth, aging, sickness

and death

Lần đều khiến dứt hết.

He can eliminate them all.

Chân quán thanh tịnh quán

He is truthful and pious

Trí tuệ quán rộng lớn

He possesses great wisdom

Bi quán và từ quán,

With kindness and compassion

Thường nguyện thường chiêm ngưỡng

May we forever pay homage to him

Sáng thanh tịnh không nhơ

He is shining with spotless purity

Tuệ nhật phá các tối

Like the sun banishes darkness

Hay phục tai khói lửa

He can subdue disasters of wind and

fire

Khắp soi sáng thế gian.

And illuminate the entire world.

Lòng bi răn như sấm

His compassion and precepts roar

like thunder

Ý tứ diệu dường mây

And his kindness embraces like

clouds

Xối mưa pháp cam lộ

Quenching the world’s thirst with

holy water

Dứt trừ lửa phiền não

And eliminating all distress and

sufferings.

Cãi kiện qua chỗ quan

Trong quân trận sợ sệt

In trial or in battle

Do sức niệm Quán Âm

Be mindful of Avalokitesvara’s

power

Cừu oán đều lui tan.

The foes shall withdraw.

Diệu âm, Quán Thế Âm

The wonderful voice of

Avalokitesvara

Phạm âm, hải triều âm

Rolling like the Braha’s song and

tide

Tiếng hơn thế gian kia,

Surpasses the best of earthly

sounds,

Cho nên thường phải niệm.

Thus we should always be mindful

of him

Niệm niệm chớ sinh nghi

Be mindful without doubt

Quán Âm bậc Tịnh Thánh

Avalokitesvara is a pious saint

Nơi khổ não nạn chết

In the midst of pain, distress, death

and danger

Hay vì làm nương cậy.

He can be relied upon.

Đủ tất cả công đức

He is fully endowed with virtues

Mắt lành trông chúng sanh

And kindly looks upon all beings

Biển phúc lớn không lường

He has accumulated merits deeper

than the ocean

Cho nên phải đảnh lễ.

Thus you should prostrate to him.

---Bấy giờ ngài Trì Địa Bồ Tát liền từ chỗ ngồi đứng đây đến trước Phật bạch rằng: “Thế Tôn! Nếu có chúng sanh nào nghe phẩm Quán Thế Âm Bồ Tát đạo nghiệp tự tại, Phổ môn thị hiện sức thần thông nầy, thời phải biết công đức người đó chẳng phải ít.”—At this point, Dharanimdhara Bodhisattvarose from his seat, and proclaimed to the Buddha, “Bhagavan! Any beings who have heard of Avalokitesvara Bodhisattva’s wonderful deeds, the manifestation of this universal gateway, his magical power, these beings have acquired enormous merit.

---Lúc Phật nói phẩm Phổ Môn này, trong chúng có tám muôn bốn ngàn chúng sanh đều phát tâm vô đẳng đẳng vô thượng chánh đẳng chánh giác—When the Buddha discoursed this chapter of the Universal Gateway, eighty-four thousand beings in the assembly pledged the unique vow of Anuttara SamyakSambodhi.   

 

Kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai (Bổn Nguyện Công Đức Kinh)

---The Sutra on the Merit and Virtue of the Original Pledges by the Medicine Buddha.

---The Sutra on the Merits and Virtues of the Original Vows by Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata.

--Ta nghe như vầy: “Một thuở nọ Đức Bạt Già Phạm đi châu du giáo hóa các nước, đến thành Quảng Nghiêm, nghỉ dưới cây Nhạc Âm, cùng với tám ngàn vị đại tỳ kheo, ba vạn sáu ngàn vị đại Bồ tát, các hàng quôc vương, đại thần, bà la môn, các hàng cư sĩ, thiên long bát bộ cùng nhơn, phi nhơn, cả thảy đại chúng nhiều vô lượng, đồng vây quanh Phật cung kính thỉnh Ngài thuyết pháp—Thus I have heard: During one of the many journeys through the land, Bhagavan arrived at the city of Vaisali. Resting under a Resounding Tree, there in his company was a congregation of eight thousand elder Bhikshus, thirty-six thousand Bodhisatvas Mahasattvas, kings, ministers, brahmins, lay devotees, celestial beings, nagas, humans and spirits. This infinite  mass gatherd around with great veneration to hear his teaching.

---Lúc bấy giờ ông Mạn Thù Thất Lợi pháp Vương tử  (Văn Thù Sư Lợi Bồ tát) nhờ oai thần của Phật, từ chỗ ngồi đứng dậy, vén y để bày vai bên hữu và gối bên mặt quì sát đất, khép nép chấp tay hướng về phía Phật bạch rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Cúi xin Ngài nói rõ những danh hiệu, những bổn nguyện rộng lớn cùng những công đức thù thắng của chư Phật  để cho những người đang nghe pháp, nghiệp chướng tiêu trừ và để cho chúng hữu tình ở đời tượng pháp được nhiều lợi lạc về sau—Inspired by the mighty power of the Buddha, Manjusri, the crown prince of the Dharma, rose from his seat, bared one shoulder and knelt down. Holding his palms together, he bowed and asked the Buddha, “Lokajyestha, please tell us the great sages of the Buddhas, their titles and forms, their original vows, and their unequalled virtues and merits. This can eradicate the karmic hindrances of the listeners. It would be specially beneficial to those who live in the middle period of the Dharma.

---Đức Thế Tôn khen ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát rằng: “Hay thay! Hay thay! Văn Thù Sư Lợi! Ngươi lấy lòng đại bi yêu cầu ta nói những danh hiệu và bổn nguyện công đức của chư Phật là vì muốn cho chúng hữu tình khỏi bị nghiệp chướng ràng buộc, lợi ích an vui, trong đời tượng pháp về sau. Nay ngươi nên lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì ông mà nói.”—Lokajyestha praised Manjusri, “Excellent! Excellent! Manjusri, you ask me about the sages and original vows of the Budhas out of great compassion. It will liberate those have karmic hindrnaces. It will be very beneficial to beings in the middle period of the Dharma. Listen and reflect carefully, I shall tell now."    

---Văn Thù Sư Lợi bạch Phật rằng: “Dạ, mong Thế Tôn nói, chúng con xin nghe.”—Manjusri replied, “Yes, please do teach us, we will be glad to listen.”

---Phật bảo ông Văn Thù Sư Lợi: “Ở phương Đông, cách đây hơn mười căn dà sa cõi Phật có một thế giới tên là Tịnh Lưu Ly. Đức giáo chủ cõi ấy hiệu là Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Viên Mãn, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Bạt Già Phạm. Này Văn Thù Sư Lợi, Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, khi còn tu hạnh đạo Bồ tát có phát mười hai nguyện lớn, khiến cho chúng hữu tình cầu chi được nấy—Buddha discoursed to Manjusri, “Eastward over Budha Lands ten times as numerous as the sands of the Ganges, there is a world called Pure Crystal. The Buddha of this world has the title Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathatgata, Arhat, Samyak Sambuddha, Vidyacarana, Sampanna, Sugata, Lokasvid, Anuttara, Purusa Dhamya sarathi, Sasta deva manusyanam, Buddha, Bhagavan. Manjusri, as a Bodhisattva, Lokajyestha Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata, pledged the following twelve great vows to grant everybody’s prayer.

---Nguyện thứ nhứt: Ta nguyện đời sau, khi chứng đặng đạo chánh đẳng giác, thân ta có hào quang sáng suốt, rực rỡ chiếu khắp vô lượng, vô số, vô biên thế giới, khiến cho tất  cả chúng hữu tình  đều có đủ ba mươi hai tướng đại trượng phu, cùng tám chục món tùy hình trang nghiêm như thân của ta vậy—The first vow pledges, in the future, upon attaining Anuttara SamyakSambodhi, my body would radiate and shine through the countless galaxies. As a Buddha adorned with the thirty-two marks of a Graet Man and the eighty characteristics, I shall make all beings wholly equal to me.

---Nguyện thứ hai: Ta nguyện đời sau, khi đặng đạo Bồ Đề, thân ta như ngọc lưu ly, trong ngoài sáng suốt, tinh sạch hoàn toàn, không có chút nhơ bợn, ánh quang minh chói lọi khắp nơi, công đức cao vòi vọi và an trú giữa từng lưới dệt bằng tia sáng, tỏ hơn vừng nhựt nguyệt. Chúng sanh trong cõi u minh đều nhờ ánh sáng ấy mà tâm trí được mở mang và tùy ý muốn đi đến chỗ nào để làm các sự nghiệp gì cũng đều được cả—The second vow pledges, in the future, upon attaining Perfect Enlightenment, my body shall be like crystal. It will be transparent throughout  and spotlessly clear without the slightest imperfection. It will splendidly shine with light, in majestic virtues, sitting in serenity. It will be adorned with the aureole, brighter than the sun and moon. I shall illuminate all beings in darkness. They all can be enlightened according to their capacities.

---Nguyện thứ ba: Ta nguyện đời sau, khi đặng đạo Bồ Đề, dùng trí huệ phương tiện vô lượng vô biên độ cho chúng hữu tình, khiến ai nấy đều có đủ các vật dụng, chớ không cho ai phải chịu sự thiếu thốn—The third vow pledges, in the future, upon attaining Perfect Enlightyenment, I will apply my boundless skill and wisdom to fullfil the everyone’s need without inadequacy.

---Nguyện thứ tư: Ta nguyện đời sau, khi đặng đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình tu theo tà đạo, thì ta khiến họ quay về an trụ trong đạo Bồ Đề, hoặc có những người tu hành theo hạnh Thanh Văn, Độc Giác thì ta cũng lấy phép đại thừa mà dạy bảo cho họ—The forth vow pledges, in the future, upon attaining Perfect Enlightenment, I will teach those who have gone astray to walk back on the path of Bodhi. Those aiming for Sramana or Pratyeka Buddha, I would anchor them back on the Mahayana way.

---Nguyện thứ năm; Ta nguyện đời sau, khi đặng đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nhiều vô lượng, vô biên ở trong giáo pháp của ta mà tu hành theo hạnh thanh tịnh thì ta khiến cho tất cả đều giữ được giới pháp hoàn toàn đầy đủ cả tam tụ tịnh giới. Giả sử có người nào bị tội hủy phạm giới pháp mà khi đã nghe được danh hiệu ta thì trở lại được thanh tịnh, khỏi sa vào đường ác—The fifth vow pledges, in the future, upon attaining Perfect Enlightenment, my countless devotees will all firmly uphold and fulfill the three cumulative precepts. Those who may lapsed shall be cleansed and suffer no falls upon hearing my name.               

---Nguyện thứ sáu: Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nào thân hình hèn hạ, các căn không đủ, xấu xa, khờ khạo, tai điếc, mắt đui, nói năng ngọng ngệu, tay chân tật nguyền, lát hủi, điên cuồng, chịu tất cả những bịnh khổ ấy mà khi đã nghe danh hiệu thì liền được thân hình đoan chính tâm tánh khôn ngoan, các căn đầy đủ, không còn những bịnh khổ ấy nữa—The sixth vow pledges, in the future, upon attaining Perfect Enlightenment, anyone with physical inferiorities or mental impairments, such as ugliness, febble-mindedness, blindness, deafness, are mute, handicapped, paralyzed, hump-backed, leprous, psychotic, and all these pains and anguishes shall be physically and mentally restored.

---Nguyện thứ bảy: Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nào bị những chứng bịnh hiểm nghèo không ai cứu chữa, không ai để nương nhờ, không gặp thầy, không gặp thuốc, không bà con, không nhà cửa, chịu nhiều nỗi nghèo hèn khốn khổ, mà hễ danh hiệu ta đã nghe lọt vào tai một lần thì tất cả bịnh hoạn khổ não đều tiêu trừ, thân tâm an lạc, gia quyến sum vầy, của cải sung túc, cho đến chứng được đạo quả vô thượng Bồ Đề—The seventh vow pledges, in the future, upon attaining Perfect Enlightenment, anyone who is tormented by sickness, with no place to turn, no place for care, no home nor friends, deprived and suffering. Upn hearing my name, their sickness shall be cured, with peace of mind and body, they shall have a loving family anf live in boundtifulness until attaining Perfect Enlightenment.

---Nguyện thứ tám: Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ Đề, nếu có những phụ nữ nào bị trăm điều hèn hạ khổ sở của thân gái làm cho buồn rầu, bực tức, sanh tâm nhàm chán, muốn bỏ thân ấy mà hễ nghe danh hiệu ta rồi thì tất cả đều được chuyển thân gái thành thân trai, có đủ hình tướng trượng phu, cho đến chứng được đạo quả vô thượng Bồ Đề—The eighth vow pledges, in the future, upon attaining Perfect Enlightenment, those women who are troubled and wearied the hundreds of faminine problems. They long to abandon the female form. Upon hearing my name, they shall be male in their future rebirth. They shall have a grand posture of manhood until Perfect Enlightenment.

---Nguyện thứ chín: Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ Đề thì khiến cho những chúng hữu tình ra khỏi vòng lưới ma nghiệp, được giải thoát tất cả sự ràng buộc của ngoại đạo. Nếu có những kẻ sa vào rừng ác kiến, ta nhiếp dẫn họ trở về với chánh kiến và dần dần khiến họ tu tập theo các hạnh Bồ tát đặng mau chứng đạo chánh đẳng Bồ Đề—The ninth vow pledges, in the future, upon attaining Perfect Enlightenment, everyone shall escape the evil net of Mara, and delusion from the hindrance of external doctrines, If they are trapped in the dense forest of false understandings, I shall show them the right view. I shall lead them on the Bodhisattva path. All will attain Perfect Enlightenment soon.

---Nguyện thứ mười: Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nào mà pháp luật  nhà vua gia tội phải bị xiềng xích, đáng đập, hoặc bị giam giữ trong chốn lao tù, hoặc bị chém giết, hoặc bị nhiều tai nạn nhục nhã, thân tâm chịu những nỗi khổ, buồn rầu, bức rức, hễ nghe đến danh hiệu ta thì nhờ sức oai thần phước đức của ta đều được giải thoát tất cả những nỗi ưu khổ ấy—The tenth vow pledges, in the future, after attaining Perfect Enlightenment, those who are apprehended by the law, bound and punished, in shackles and jailed, or about to be put to death. They suffer endless distress and insults. They are in sorrow and anguish physically and mentally. Upon hearing my name, by my merits and powers, they shall be emancipated.

---Nguyện thứ mười một: Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nào bị sự đói khát hoành hành, đến nỗi vì tìm miếng ăn phải tạo tác các nghiệp dữ, mà hễ nghe danh hiệu ta rồi chuyện niệm thọ trì thì trước hết ta dùng các món ăn uống ngon lạ ban bố cho thân họ được no đủ và sau ta mới đem pháp vị nhiệm mầu  kiến lập cho họ cái cảnh giới an lạc hoàn toàn—The eleventh vow pledges, in the future, after attaining Perfect Enlightenement, those who are driven to crimes because of hungry and thirst. Upon hearing my name and holding it with veneration, they shall be satisfied with the best of food and drink. They shal then taste the delight of the Dharma. They shall soon live a life of tranquility and comfort.   

---Nguyện thứ mười hai: Ta nguyện đời sau, khi chứng được đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nào nghèo đến nỗi không có áo che thân bị muỗi mòng cắn đốt, nóng lạnh dãi dầu, ngày đêm khổ bức, hễ nghe đến danh hiệu ta mà chuyên niệm thọ trì thì ta khiến cho được như ý muốn: nào các thứ y phục tốt đẹp, nào tất cả các bảo vật trang nghiêm, nào tràng hoa, phấn sáp bát ngát mùi hơm và trống nhạc cùng những điệu ca múa, tùy tâm muốn thưởng thức món nào cũng được thỏa mãn cả—The twelveth vow pledges, in the future, after attaining Perfect Enlightenment, those who are poor and exposed, tormented by the elements, mosquitoes and wasps. They suffer day and night.  Upon hearing my name and holding it with veneration, they shall have the best of garments with ornaments, garlands and music bands. All their wishes shall be fully satisfied.  

---Này Văn Thù Sư Lợi, đó là mười hai lời nguyện nhiệm mầu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác phát ra trong khi tu hạnh đạo Bồ Tát.

Manjusri, these are the twelve grand vows pledged by the Lokajyestha, Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata, Arhat, SamyakSambuddha, while practicing his Bodhisattva way.

---Lại nữa, Văn Thù Sư Lợi, Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai kia khi còn tu hành đạo Bồ Tát phát những lời nguyện rộng lớn và những công đức trang nghiêm ở cõi Ngài, dầu ta nói mãn một kiếp hay hơn một kiếp cũng không thể nào hết được. Nhưng ta có thể nói ngay rằng cõi Phật kia một bề thanh tịnh không có đàn bà, cũng không có đường dữ và cả đến tiếng khổ cũng không.

Furthermore, Manjusri, Lokajyestha Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata, while treading the Bodhisattva path, has nade such giant vows and grand adornment. I can go on talking for kalpas, the subject would still not be completed. In his Budha Land, it is eternally pure. There are no genders. There are no evil births or cries of sufferings.

---Ở cõi ấy đất toàn bằng chất lưu ly, đường đi có dây bằng vàng giăng làm ranh giới, còn thành quách cung điện, mái hiên, cửa sổ cho đến các lớp lưới bao phủ cũng toàn bằng đồ thất bảo làm ra. Thật chẳng khác gì những công đức trang nghiêm ở cõi Tây Phương Cực Lạc vậy.

The ground is made of crystal and partitioned by ropes of gold. The castles, towers, palaces, halls, balconies, windows and nets are made of the seven treasures. It is no less magnificient than the Western World of Ultimate Bliss.

---Cõi Phật ấy có hai vị đại Bồ tát là Nhựt Quang Biến Chiếu và Nguyệt Quang Biến Chiếu, chính là hai bực thượng thủ trong vô lượng, vô số Bồ Tát và lại là những bậc sắp bổ xứ làm Phật. Hai vị nầy đều giữ gìn kho báu chánh pháp của Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai.

In this world, there are two Bodhisattvas Mahasattvas. They are Suryaprabha Bodhisattva and Candraprabha Bodhisattva. They are the senior amongst the countless Bodhisattvas. They will be the next Buddhas. They both can oversee the righteous treasures of Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata well.

---Văn Thù Sư Lợi, vì thế những kẻ thiện nam tín nữ nào có lòng tin vững chắc thì nên nguyện sanh về thế giới của Ngài.

Therefore, Manjusri, all pious male and female devotees should pledge to be born in this Buddha Land.

---Lúc ấy Đức Thế Tôn lại bảo ông Văn Thù Sư Lợi rằng: “Có những chúng sanh không biết điều lành dữ, cứ ôm lòng bỏn xẻn tham lam, không biết bố thí mà cũng không biết quả báo của sự bố thí là gì, ngu si vô trí, thiếu hẳn đức tin, lại ham chứa chất của cải cho nhiều, đêm ngày bo bo gìn giữ, thấy ai đến xin, lòng đã không muốn, nhưng nếu cực chẳng đã phải đưa của ra thì đau đớn mến tiếc, dường như lắt thịt cho người vậy.

Lokajyestha then further discoursed, “Manjusri, those who cannot tell right from wrong. They are greedy and stingy. They never learn to give or the merits of giving. They are ignorant and faithless. They accumulate great wealth. They guard it with great zeal. They hate charity. When giving is unavoidable, it is as tearing off flesh.

---Lại có vô lượng chúng hữu tình tham lẫn, chỉ lo tích trử của cải cho nhiều mà tự mình không dám ăn tiêu, còn nói chi đến sự đem của ấy thí cho cha mẹ, vợ con, tôi tớ và những kẻ nghèo hèn đến xin. Những kẻ tham lẫn ấy khi chết bị đọa vào đường ngạ quỷ hay bàng sanh.

These people are stingy even to themselves. How could you expect them to be generous to their parents, families, servants, workers, or beggars? Upon death, they will be born as hungry ghosts or animals.

---Mặc dù ở trong ác thú, nhưng nhờ đời trước, sống trong cõi nhơn gian đã từng nghe qua danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai mà nay lại còn nhớ niệm đến danh hiệu Ngài thì liền từ cõi ấy thoát sanh trở lại làm người. Khi đã được làm người lại nhớ đến kiếp sống trong đường ngạ quỷ, súc sanh, biết sợ sự đau khổ nên không ưa đắm dục lạc mà còn muốn tự mình làm việc bố thí, khen ngợi người khác làm việc bố thí, không tham tiếc món gì và lần lần có thể đem cả đầu, mắt, tay, chơn hay máu thịt của thân phần mình mà bố thí cho những kẻ đến xin cũng được, huống chi của cải là những vật thừa.

It may happen that while as human, they heard of the name Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata. Even if they are in an evil realm now, if they recall the Tathagata’s name, instantaneously, they vanish and are reborn as humans. They will remember their past lives. They will fear the pains of the evil realms. They will not indulge in earthy pleasures and love to help, admire generosity and give without hesitation. Eventually, they will even give organs, limbs, lod, flesh in an act of charity, to say nothing of money and material possessions.

---Lại nữa, Văn Thù Sư Lợi, trong chúng hữu tình nếu có những người nào thọ các giới của Phật để tu học mà lại phá giới hoặc có kẻ không phá giới mà lại phá phép tắc, hoặc có kẻ tuy chẳng phá giới và phép tắc mà lại hủy hoại chánh kiến, hoặc có kẻ tuy không hủy hoại chánh kiến mà lại bỏ sự đa văn nên không hiểu được nghĩa lý sâu xa trong kinh Phật nói, hoặc có kẻ tuy đa văn mà có thói Tăng Thượng mạn, do thói tăng thượng mạn ấy che lấp tâm tánh, cố chấp cho mình là phải, người khác là quấy, chê bai chánh pháp kết đảng với ma.

Furthermore, Manjusri, those who study from the Tathagata, but trespass against the precepts. Those who break no precepts, but trespass on minor rules. Those who break neither precepts nor minor rules, but have erroneous views. Those without erroneous views, but neglect to study broadly, and are unable to understand the profound meaning taught by the Buddha. Those with a broad knowledge, but who become arrogant. Because of arrogance, they become boastful and slight others. They slander the correct teachings, and fall in the companies of Mara.

---Những kẻ ngu si ấy tự mình đã làm theo tà kiến mà lại còn khiến cho vô số ức triệu chúng hữu tình cũng bị sa vào hố nguy hiểm. Những chúng hữu tình ấy bị lăn trôi trong các đường địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh không khi nào cùng. Nhưng nếu nghe được danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai thì họ liền bỏ những hạnh dữ tu theo các pháp lành, khỏi bị đọa vào vòng ác thú nữa.

Such persons’ ignorance not only errs themselves, but leads countless others into pitfalls. They are to be trapped in hell, as animals or ghosts for eternity. If they hear the name of Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata and abandon their wickedness, practice the righteous deeds, they will not suffer any falls.

---Giả sử có người không thể bỏ được những điều dữ để tu theo pháp lành mà phải bị đọa vào vòng ác thú thì cũng nhờ oai lực bổn nguyện của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai khiến cho họ, khi tạm nghe được danh hiệu Ngài, liền từ nơi ác thú mạng chung, trở sanh vào cõi người, được tinh tấn tu hành trong sự hiểu biết chơn chánh  khéo điều hòa tâm ý, bỏ trần tục xuất gia thọ trì và tu học theo giáo pháp của Như Lai, đã không hủy phạm lại thêm chánh kiến đa văn, hiểu rõ nghĩa lý sâu xa lìa được thói tăng thượng mạn, không chê bai chánh pháp, không bè bạn với ma, dần dần tu hành theo hạnh Bồ Tát chóng được viên mãn.

Even if they cannot reform and thus fall into the evil realms. By the power of this Tathagata’s pledges, if they hear his name, even just for a moment, after they pass away, they can be born as humans again. They will have righteous views. They will work diligently and curb their lusts. They will renounce the domestic life and choose the way of the monastic. They will study the teachings of the Tathagata without breaking any rules. They will have right views and broad knowledge. They will understand the profound teaching. They will be humble and slander no truth. They will never be in the arms of Mara. They will walk the Bodhisattva path and attain Perfect Enlightenment.

---Lại nữa, Văn Thù Sư Lợi, nếu chúng hữu tình có tánh tham lam tật đố, hay khen mình chê người thì sẽ bị đọa trong ba đường địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, phải chịu nhiều sự đau đớn khổ sở, trải qua không biết mấy nghìn năm mới hết. Khi đã mãn sự đau khổ kia, liền từ nơi đó mạng chung sanh lại cõi trần phải làm thân trâu, ngựa, lừa, lạc đà, thường bị người hành hạ, đánh đập và bị đói khát dày vò, lại phải đi đường xa chở nặng, cực nhọc muôn phần; còn như may đặng làm thân người thì lại bị sanh làm tôi tớ cho kẻ khác, mãi bị họ sai sử không khi nào được chút thong thả tự do.

Manjusri, there are those who are stingy and jealous. They boast themselves and slander others. They are to fall into the thre evil realms and suffer great pains. After incalculable milleniums, they will be born on earth as cows, horses, camels or donkeys. They will be tormented by constant weeping, hunger and thirst. They will carry great loads over long distances. If they are born as human, they would be poor and deprived. They would be maids or servants and never be free.

---Nếu những nhơn vẫt ấy, đời trước khi còn trong nhơn đạo đã từng nghe danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai thì do cái nhơn lành ấy, ngày nay nhớ lại, chí tâm quy-y Ngài, nhờ thần lực của Ngài gia bị mà thoát khỏi mọi sự khổ não, các căn thông lợi, trí huệ sáng suốt lại thêm đa văn, hằng cầu thắng pháp, thường gặp bạn lành, đời đời dứt hẳn lưới ma, đập nát vỏ thông minh, tát cạn sông phiền não, mà được giải thoát khỏi nạn sanh, lão, bịnh, tử và những nỗi đau khổ lo buồn.

If while as humans, they have heard of the name, Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata. Because of this meritorious act, they recall and sincerely take refuge in the Tathagata. By this Buddha's miraculous power, all pains are relieved. They will have accute senses, great wisdom and broad knowledge. They will love to learn. They will always be in the company of wise friends. They will break away from the grasp of Mara forever. They will have pierced the veil of ignorance. They will have dried up the river of distress. They are emancipated from all pains of birth, aging, sickness, death, worries and misery.

---Lại nữa, Văn Thù Sư Lợi, nếu chúng hữu tình có tánh ưa sự ngang trái chia lìa, tranh đấu, kiện cáo lẫn nhau, làm não loạn cho mình và người, đem thân, khẩu, ý tạo thêm mãi những ác nghiệp, xoay qua trở lại, thường làm những việc không nhiêu ích để mưu hại lẫn nhau, hoặc cáo triệu những thần ở núi, rừng, cây, mã để hại người, hoặc giết chúng sanh lấy huyết thịt cúng tế quỷ Dạ xoa và quỷ La sát để cậy quỷ hại người, hoặc biên tên họ và làm hình tượng của người cừu oán rồi dùng phép chú thuật tà ác mà trù ẻocho chết, hoặc theo lối ếm đối và dùng những đồ độc, hoặc dùng chú pháp hại mạng người.

Manjusri, there are also those who are repugnant and belligerent, cause great distress to themselves and others. By their actions, speech anf thoughts, they pile up many negative karmas. They constantly inflict  mutual harms. They pray to the spirits of mountains, trees and tombs. They scarify the blood and flesh of the living as offerings to Yaksas and Rakshasas. They use sorcery and black magic to injure and kill others.

---Nếu chúng hữu tình bị những tai nạn ấy mà nghe danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai thì các thứ tà ác kia không thể hại được. Tất cả những kẻ ác tâm kia đều trở lại khởi lòng từ làm việc lợi ích an vui cho kẻ khác, không còn ý tổn não và tâm hiềm giận, hai bên hòa hảo với nhau. Và đối với vât thọ dụng của ai thì người ấy tự vui mừng biết đủ, không xâm lấn của nhau mà lại còn giúp đở lẫn nhau nữa.

If they have heard the name, Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata, they will be protected from all curses. They will develop a kind of loving feeling toward each other. They will wish to help and benefit other. They would have no hatred or jealous. They will live a life of joy. They will learn to be content, respect other’s property and be helpful to one another.

---Lại nữa, Văn Thù Sư Lợi, nếu trong hàng tứ chúng: Tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di và những thiện nam tín nữ đều có thọ trì tám phần trai giới, hoặc trong mỗi năm, hoặc mỗi ba tháng, vâng giữ giới pháp làm nơi y chỉ  tu học, rồi đem căn lành nầy nguyện sanh về chỗ Phật Vô Lượng thọ ở Thế Giới Cực Lạc Tây Phương đặng nghe chánh pháp. Furthermore, Manjusri, the four groups of devotees, Bhikshus, Bhikshunis, Upasakas, Upasikas and all other faithful, who observe the eight precepts retreat, for a year or three months. With this merit, they wish to be born in the Western Paradise of Amitayus Buddha. Although they know the right teaching, but their faith is weak.

---Nếu nghe được danh hiệu Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, thì khi mạng chung sẽ có tám vị Đại Bồ Tát như Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ tát, Vô Tận Ý Bồ tát, Bảo Đàn Hoa Bồ Tát, Dược Vương Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát từ trên không trung đi đến đưa đường dẫn lối cho thì liền được vãng sanh trong những hoa báu đủ màu.

If they have heard of the name, Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata, when the end comes, the eight Bodhisattvas Mahasattvas: Manjusri Bodhisattva, Avalokitesvara Bodhisattva, Mahasthamaprapta Bodhisattva, Aksayamati Bodhisattva, Ratna Candana Kusuma Bodhisattva, Bhaisajya-raji Bodhisattva, Bhaisajya Samudgata Bodhisattva and Maitreya Bodhisattva, will come to show the way. Instantaneously, they will be born in the midst of colorful blossoms in that world.

---Hoặc nếu có kẻ, nhơn nguyện lực của Đức Dược Sư mà được thác sanh lên cõi trời và mặc dầu sanh lên cõi trời nhưng nhờ căn lành sẳn có ấy chưa hết thì không còn sanh lại những đường ác nữa.

They also may be born in Heaven. Even as celestial beings, their virtues are not exhausted. They will never fall in the evil realms.

---Khi tuổi thọ ở cõi trời đã mãn, sanh lại trong cõi người thì hoặc làm đến bậc luân vương, thống nhiếp cả bốn châu thiên hạ, oai đức tự tại, giáo hóa cho vô lượng trăm ngàn chúng hữu tình theo con đường nhập thiện, hoặc sanh vào dòng sát đế lợi, Bà la môn hay cư sĩ đại cô, của tiền dư dật, kho đụn tràn đầy, tướng mạo đoan trang, quyến thuộc sum vầy, lại được thông minh trí huệ, dõnh mãnh oai hùng như người đại lực sĩ. Còn nếu có người phụ nữ nào nghe đến danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai mà hết lòng thọ trì danh hiệu ấy thì đời sau sẽ không làm thân gái nữa.

After a life in heaven and becoming human again. They will be kings who rule the world, with power and fame. They will establish countless individuals in the ten virtuous ways. By these virtues, all will be born as Kshatriyas, Brhamins, lay disciples. They will have great wealth and properties, inspiring looks, happy families, great wisdom and the physique of a warrior. If a woman hears of the name, Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata, and sincerely cherishes the name, she will never be reborn as a female again. 

---Này Văn Thù Sư Lợi! Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai kia khi đã chứng được đạo Bồ Đề, do sức bổn nguyện mà Ngài quan sát biết chúng hữu tình gặp phải các thứ bịnh khổ như da vàng, gầy ốm, cảm nhiệt, thương hàn, hoặc trúng phải những thứ ếm đối , đồ độc, hoặc bị hoạnh tử, hoặc bị chết non.

Moreover, Manjusri, since his Perfect Enlightenment, Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata, because of his vows to look upon all beings, such as: in sickness and pain, from starvation, dehydration, fevers, from curses, poisoning, dying young or unaturally.

---Muốn những chứng bịnh đau khổ ấy được tiêu trừ và lòng mong cầu của chúng hữu tình được mãn nguyện, Đức Dược Sư  liền nhập định, kêu là định “diệt trừ tất cả khổ não chúng sanh.” Khi Ngài nhập định, từ trong nhục kế phóng ra luồng ánh sáng lớn.

Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata pledges to end their sufferings. Therefore, he enters a samadhi. The samadhi is called “Relieving all sufferings.” In this samadhi, he shines with great radiance.

---Trong luồng ánh sáng ấy Ngài nói chú Đại bi Đà La Ni: Nam-mô Bạt Già Phạt đế, bệ sát xá, lu lô tịch lưu ly, bát lặc bà, hát ra xà dả. Đát tha yết đa da, a ra hắc đế. Tam miệu tam bột đà da, đát điệt tha. Án bệ sát thệ, bệ sát thệ, bệ sát xá, tam một yết đế tóa ha.

In this bright light, he recites the following grand Dharani: Namo Bhagavate Bhaisajyaguru Vaidurya Prabharajaya Thathagataya Arhate SamyakSambuddhaya Tadyatha Om Bhaishgajye Bhaishajya Samudgate Savha.

---Lúc ấy trong luồng ánh sáng diễn chú này rồi, cả đại địa rúng động, phóng ra ánh đại quang minh làm cho tất cả chúng sanh dứt hết bịnh khổ, hưởng được an vui.

When the great Dharani is completed, the earth shakes and great light falls upon the world. Everyone is relieved of all suferings and great peace is restored.

---Này Văn Thù Sư Lợi! Nếu thấy những người nào đang mắc bịnh khổ thì phải tắm gội cho sạch sẽ và vì họ nhứt tâm tụng chú nầy 108 biến, chú nguyện trong đồ ăn, trong thuốc uống hay trong nước không vi trùng mà cho họ uống thì những bịnh khổ ấy đều tiêu diệt.

Manjusri, if a man or woman is in misery, you should help in the following way. First cleanse yourself thoughtfully with                              

Food, medicine or clean water, sincerely recite this Dharani for hundred and eight times. Then give to the person for ingestion. All disease and suffering will be eradicated.

---Nếu có ai mong cầu việc gì mà chí tâm tụng niệm chú nầy thì đều được như ý muốn: đã không bịnh lại thêm sống lâu, sau khi mạng chung được sanh về thế giới Tịnh Lưu Ly, không còn thối chuyển đến đạo quả Bồ Đề.

For any wish, they should recite the dharani accordingly. They also will enjoy good health and long life. After death, they will be born in his Pure Land. They will achieve non-regression until Supreme Enlightenment.

---Vậy nên, Văn Thù Sư Lợi, nếu có người hết lòng ân cần tôn trọng, cung kính cúng dường Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai thì phải thường trì tụng chú nầy đừng lãng quên.

Therefore, Manjusri, any devotees of Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata, should memorize and recite this Dharani.

---Lại nữa, nếu có những kẻ tịnh tín nam nữ nào được nghe rồi tụng trì danh hiệu Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Ưng Chánh Đẳng giác, mỗi sớm mai, súc miệng, đánh răng tắm gội sạch sẽ, xong lại thắp hương, rải dầu thơm, các món kỹ nhạc để cúng dường hình tượng; còn đối với kinh điển này thì tự mình hay dạy người khác chép ra, rồi giữ một lòng thọ trì và suy nghĩ nghĩa lý; đối với vị pháp sư giảng nói kinh pháp thì phải nên cúng dường tất cả những vật cần dùng đừng để thiếu thốn. Hễ hết lòng như vậy thì nhờ chư Phật hộ niệm được mãn nguyện mọi sự mong cầu cho đến chứng đặng đạo quả Bồ Đề.

Furthermore, any pious man or woman who hears the name Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata, Arhat, SamyakSambuddha, should venerate him in the following ways. Each morning, after brushing teeth and cleansing the body, they should make offerings of incenses, flowers, ointments, and sing praises to the image of Buddha. They should copy and teach this sutra. They should copy and teach this sutra. They should study, follow, and understand its profound meaning. They should make offerings to the guru, providing for his need to satisfaction. In this way, they will be protected by all Buddhas. All their wishes will be fulfilled  until the Supreme Enlightenment.        

---Lúc bấy giờ Văn Thù Sư Lợi bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, tôi thề qua thời kỳ tượng pháp sẽ dùng đủ chước phương tiện khiến cho những thiện nam tín nữ có lòng tin trong sạch đưỡc nghe danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, cả đến trong giấc ngủ của họ tôi cũng dùng danh hiệu của đức Phật nầy, thức tỉnh nơi tai cho họ rõ biết.

At this point, disciple Manjusri pledged to Buddha, “Lokajyestha, I will apply all my skills in the middle period of the Dharma to enable everyone to know the name of Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata. Even in their sleep, I will repeat the Buddha’s name to them.

---Bạch Đức Thế Tôn, nếu ai thọ trì đọc tụng kinh nầy, hoặc đem giảng nói, bày tỏ cho người khác, hoặc tự mình hay dạy người biên chép kinh nầy, hết lòng cung kính tôn trọng, dùng những bông thơm, dầu thơm, các thứ hương đốt, tràng hoa, anh lạc, phướn lọng cùng âm nhạc hát múa mà cúng dường hoặc dùng hàng ngũ sắc làm đãy đựng kinh này, rồi quét dọn một nơi sạch sẽ, thiết lập một tòa cao mà để lên, thì lúc ấy có bốn vị thiên vương quyến thuộc và cùng vô lượng trăm ngàn thiên chúng ở các cõi trời khác đều đến đó mà cúng dường và thủ hộ.

Lokajyestha, anyone who recites and accepts this Sutra, teaches it to others, transcribes or publishes, pays homage to it with a variety of flowers, ointments, perfumes, garlands, gems, canopies and music. He should put the Sutra in a five color bag. He should display the Sutra in a clean and prominent place. The four great guardina kings with their warriors and countless celestial beings will descend to make offerings and guard the place.

---Bạch Đức Thế Tôn, nếu kinh nầy lưu hành đến chỗ nào có người thọ trì và nghe được danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai thì nhờ công đức  bổn nguyện của Ngài mà chỗ ấy không bị nạn hoạnh tử, cũng không bị những ác quỷ, ác thần đoạt lấy tinh khí, và dẫu có bị đoạt lấy đi nữa, cũng được hoàn lại, thân tâm yên ổn khỏe mạnh như thường.

Lokajyestha, wherever this Sutra is preached and wherever there are faithful. By the power of Lokajyestha Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata’s pledge his name, there will be no untimely death. No evil spirits or demons will dare to put on a spell. Even if they do, they will be exorcized, comfort will be restored in both body and mind.

---Phật bảo Văn Thù Sư Lợi: “Phải, phải, thiệt đúng như lời ngươi nói. Nầy Văn Thù Sư Lợi! Nếu có những người tịnh tín thiện nam tín nữ nào muốn cúng dường Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai thì trước phải tạo lập hình tượng Ngài, đem để trên tòa cao chưng dọn sạch sẽ các thứ rồi rải bông, đốt các thứ hương, dùng các thứ tràng phan trang nghiêm chỗ thờ ấy.

Buddha expounded to Manjusri, “Indeeds! Indeed! Just as you say Manjusri! Those who wish to make offerings to Lokajyestha Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata, they should build a statue in his image. They should build a clean altar, adorned with flowers, incense and canopies.”

Trong bảy ngày bảy đêm, phải thọ tám phần trai giới, ăn đồ thanh trai, tắm gội và y phục chỉnh tề, giữ lòng thanh tịnh, không giận dữ, không sát hại, đối với tất cả các loài hữu tình phải khởi tâm bình đẳng, đủ cả tâm từ, bi, hỷ, xả làm cho họ được lợi ích an vui, đánh nhạc ca hát ngợi khen và do phía hữu đi nhiễu quanh tượng Phật, lại phải nghĩ  nhớ công đức bổn nguyện và đọc tụng kinh nầy, suy nghiệm nghĩa lý mà diễn nói khai thị cho người khác biết. Làm như vậy thì mong cầu việc chi cũng đều được toại ý, như cầu sống lâu, được sống lâu, cầu giàu sang, được giàu sang, cầu quan vị, được quan vị, cầu sanh con trai con gái, thì sanh được con trai, con gái.

“For seven days and nights, they should observe the eight precepts. They should consume only wholesome food. Bath and put on new clothes. They should bear minds of no defilements or hatred. Upon all beings, pledge to be benevolent with kindness, compassion, delight, generosity and fairness. They should praise the Sutra with songs and music. They should circumbulate the statue to the right. They should be mindful of the merits of this Tathagata’s pledges. They should recite this Sutra. They should reflect upon it’s meaning and preach it to other. In this way, all wishes would be fulfilled: those who wish for logevity will have longevity, great wealth will have great wealth, secure jobs will have secured jobs, offspring will have boys and girls.

---Lại có người nào trong giấc ngủ thấy những điềm chiêm bao dữ, còn khi thức thấy những ác tướng như chim đến đậu nơi vườn nhà, hoặc chỗ ở hiện ra trăm điều quái dị mà người ấy dùng những của báu cúng dường Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai thì những ác mộng, ác tướng và những điềm xấu ấy thảy đều ẩn hết, không còn phải lo sợ gì nữa.

When one has nightmares of horrifying images, such as, flocks of vultures, or demons. If one gives a variety of valuables, reverently offering them to Lokajyestha, Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata, all nightmares and omens will end. No harm will come.

---Nếu gặp nguy hiểm như nạn nước, lửa, gươm, đao, thuốc độc và các cầm thú dữ gây sự sợ hãi như: voi, sư tử, cọp, sói, gấu, rắn độc, bò cạp, rít, sên, lằn muỗi, mà hết lòng nhớ niệm và cung kính cúng dường Đức Phật Dược Sư thì được thoát khỏi những sự sợ hãi ấy; hoặc nếu bị nước khác xâm lăng, nhiễu hại, trộm cướp rối loạn mà nhớ niệm và cung kính Đức Phật Dược Sư thì cũng được thoát khỏi những nạn ấy.

When one is endangered by floods, fires, weapons, poisons, dangers, elephants, lions, tigers, wolves, bears, snakes, scorpions, millipedes, and mosquitoes. They should sincerely pray and make offerings to this Buddha. All dangers will vanish and one will be liberated. When a country is being invaded, or riots of bandits, sincerely pray to this Tathagata, one will be protected.

---Lại nữa, Văn Thù Sư Lợi, nếu có thiện nam tín nữ nào từ khi phát tâm thọ giới cho đến ngày chết, không thờ những vị trời nào, chỉ một lòng nương theo Phật, Pháp, Tăng, thọ trì giới cấm, hoặc 5 giới, 10 giới, Bồ Tát 10 giới trọng, 48 giới khinh, Tỳ kheo 250 giới, Tỳ kheo ni 348 giới, nếu có ai hủy phạm những giới pháp đã thọ trì sợ đọa vào ác thú, hễ chuyên niệm và cung kính cúng dường Đức Phật Dược Sư thì quyết định không thọ sanh trong ba đường ác.

Furthermore, Manjusri! Those who pledge no legend to any God, and take refuge in the Buddha, Dharma, and Sangha. They observe the five or ten precepts, 10 major and 48 minor precepts for Bodhisattvas, Bhikshus two hundred fifty or Bhikshunis 348 precepts. If they have infractions and worry from falling and suffering, chant this Buddha’s name and venerably make offerings, they will not suffer the fall.

---Lại nếu có người phụ nữ nào đương lúc sanh sản phải chịu sự cực khổ đau đớn mà xưng danh hiệu, lễ bái và hết lòng cung kính cúng dường Đức Phật Dược Sư thì khỏi những sự đau khổ ấy mà sanh con ra cũng được vuông tròn, tướng mạo đoan trang, lợi căn thông minh, an ổn ít bịnh hoạn, ai thấy cũng vui mừng và không bị quỷ cướp đoạt tinh khí.

When a woman suffers from great labor pains, if she whole-heartedly praise and makes offerings to this Tathagata, all pain will be relieved. A healthy child will be born with great looks, wise and strong. One adored by everybody. No demons can rob him of his vitality.

---Lúc ấy Đức Thế Tôn cũng bảo ông A-Nan rằng: “Theo như ta đã xưng dương những công đức của Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai đó là công hạnh rất sâu xa của chư Phật, khó hiểu thấu được, vậy ngươi có tin chăng?

The Budha the discoursed to Ananda, “ I have praised the virtues of the Lokajyestha Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata, and the profound deeds of the Buddhas. It is very hard to comprehend. Do you believe in my teachings?

---Ông A-Nan bạch Phật: “Bạch Đức Thế Tôn! Đối với khế kinh của Như Lai nói không bao giờ tôi sanh tâm nghi hoặc. Tại sao? Vì những nghiệp thân, khẩu, ý của Đức Như Lai đều thanh tịnh. Bạch Đức Thế Tôn, mặt trời mặt trăng có thể rơi xuống, núi Tu Di có thể lay động, nhưng những lời của chư Phật nói ra không bao giờ sai được.

Ananda replied, “Venerable Lokajyestha. I have total faith in all your teachings. Why? All Tathagata’s deeds, words and thoughts are truthful. Lokajyestha, the sun and moon may fall, mount Sumeru may shatter, the Buddha’s words are unshakable. 

Bạch Thế Tôn, nếu có những chúng sanh nào tín căn không đầy đủ, nghe nói đến những công hạnh sâu xa của chư Phật thì nghĩ rằng: Làm sao chỉ niệm danh hiệu của một Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai mà được nhiều công đức thắng lợi ngần ấy, vì sự không tin đó, trở sanh lòng hủy báng nên họ phải mất nhiều điều lợi ích, mãi ở trong cảnh đêm dài tăm tối và lại còn bị đọa lạc trong các đường ác thú, lưu chuyển không cùng.            

Lokajyestha. Those without faith, upon hearing  these profound deeds of the Buddhas, they may say the following. How can by chanting a single name of Bhaisajyaguru vaidurya Prabhasa Tathagata, one can get such excelletn merits? If they disbelieve and slander the teaching, they will miss a great benefit and suffer in the evil realms for a long time.

---Phật lại bảo ông A-Nan: “Những chúng hữu tình ấy nếu nghe danh hiệu Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, chí tâm thọ trì, không sanh lòng nghi hoặc mà đọa vào ác thú thì thật vô lý vậy.

The Buddha said to Ananda, “Anyone who hears the name of Lokajyestha Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata, sincerely accepts without doubts, they will not fall into the evil realms.

---Nầy A-Nan, đó là công hạnh rất sâu nhiệm của chư Phật, khó tin, khó hiểu mà nay ngươi lãnh thọ thì biết rằng đó là nhờ oai lực của Như Lai vậy.

Ananda, these profound deeds of the Buddhas are very hard to conceive! Your faith in this teaching is all by the power of Tathagata.

---Nầy A-Nan, tất cả các hàng Thinh Văn, Duyên Giác và các bậc Bồ tát chưa lên đến bậc sơ địa đều không thể  tin hiểu đúng như thật, chỉ trừ những bậc “nhứt sanh bổ xứ Bồ Tát” mới tin hiểu được mà thôi.

Ananda, all Sramanas and Pratyeka-Buddhas, Bodhisattvas below the tenth stages, cannot conceive the entirely. The exception is the Bodhisattva who will achieve Buddhahood in the next rebirth.

---Nầy A-Nan, thân người khó được, nhưng hết lòng tin kính tôn trọng ngôi Tam bảo còn khó hơn, huống chi nghe được danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai lại còn khó hơn nữa.

Ananda, the human form is precious. It is more precious to have faith and venerate the Three Jewels. It is even more precious to hear the name of Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata.

---Nầy A-Nan, Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai tu không biết bao nhiêu hạnh Bồ Tát, dùng không biết bao nhiêu phương tiện khéo léo, phát không biết bao nhiêu nguyện rộng lớn, nếu ta nói ra trong một kiếp hay hơn một kiếp thì số có thể mau hết, chớ những hạnh nguyện và những phương tiện khéo léo của Đức Phật kia không khi nào nói cho hết được.

Ananda, Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata, has countless Bodhisattva deeds, countless skillful means, and countless noble pledges. I can explain them for kalpas after kalpas, time may end, but this Buddha’s deeds and pledges, skillful means, would still not be fully explained.

---Lúc bấy giờ chúng hội có một vị đại Bồ tát tên là Cứu Thoát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, vén y để bày vai bên hữu, gối bên mặt quì sát đất cúi mình chấp tay bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, đến thời kỳ tượng pháp có những chúng sanh bị nhiều hoạn nạn khốn khổ, tật bịnh luôn luôn, thân hình gầy ốm, ăn uống không được, môi cổ khô rang, mắt thấy đen tối, tướng chết hiện ra, cha mẹ, bà con, bè bạn quen biết vây quanh khóc lóc.

At this time, there was a Bodhisattva Mahasattva in the assembly who was named Savior. He rose from his seat, beared a shoulder, and knelt down on his knee. He bowed, held his palms together and asked the Buddha, “Venerable Lokajyestha, in the middle period of the Dharma, there are those plagued by misfortune. They become weak and thin from long illnesses. They cannot drink nor eat. They have dry throats and lips. They are in the shadow of death. Their parents, family, friends all gather around and weep.

---Thân người bịnh vẫn còn nằm đó mà thấy sứ giả đến dẫn thần thức đem lại trước mặt vua Diêm Ma pháp vương, rồi liền khi ấy vị “sứ giả” đem sổ ghi tội phước của người đó dâng lên vua Diêm Ma.

Laying helpless in bed, he sees a messenger leading his spirit to judge Yama. A report of his good and evil deeds are presented before the judge. Judge Yama then questions the spirit. According to his deeds then gives out rewards.

---Lúc ấy vua phán hỏi rồi kê tính những tội phước của người kia đã làm mà xử đoán. Nếu trong lúc đó, những bà con quen biết, vì người bịnh ấy, quy-y với Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai và thỉnh chúng tăng đọc tụng kinh nầy, đốt đèn bảy từng, treo thần phang tục mạng năm sắc thì hoặc liền trong lúc ấy, hoặc trải qua bảy ngày, hai mươi mốt ngày, ba mươi lăm ngày, bốn mươi chín ngày, thần thức người kia được trở lại như vừa tỉnh giấc chiêm bao, tự mình nhớ biết những nghiệp lành, nghiệp dữ và sự quả báo đã thọ.

If at this time, his friends and family take refuge on his behalf in Lokajyestha Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata, if they request the sangha to recite this Sutra, if they light seven lamps with a five color banners of prolonging life, consciousness will be returned to him. Like in a dream, for seven days, twenty-one, thirty-five, or forty-nine days, the consciousness returns and one is like awakened from a dream, he will remember the reward of good and bad deeds.

---Bởi chính đã thấy rõ nghiệp báo như vậy, nên dầu có gặp phải những tai nạn nguy hiểm đến tánh mạng cũng không dám tạo những nghiệp ác nữa. Vậy nên những tịnh tính thiện nam tín nữ đều phải một lòng thọ trì danh hiệu và tùy sức mình cung kính cúng dường Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai.        

For he, himself, is the witness to the law of karma. From then on, even for the sake of survival, he will not commit an evil deed. A pious male or female devotee should always be mindful of the name of Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata. They should pay homage and make offerings according to one’s ability.

---Lúc bấy giờ ông A-Nan hỏi Cứu Thoát Bồ tát rằng: “Nầy thiện nam tử, nên cung kính cúng dường Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai như thế nào? Còn đèn và phang tục mạng phải làm cách sao?

Ananda then asked the Bodhisattva Savior, “Pious man, how should we pay homage and make offerings to Lokajyestha Bhaisajyaguru Prabhasa Tathagata? This banner and lantern of prolonging life, how should they be put together?

---Cứu Thoát Bồ tát nói: “Thưa Đại Đức, nếu có người bịnh nào, muốn khỏi bịnh khổ thì quyến thuộc họ phải thọ trì tám phần trai giới trong bảy ngày bảy đêm, tùy theo sức mình sắm sửa đồ ăn uống và các thứ cần dùng khác cúng dường chư Tăng ngày đêm sáu thời, Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, đọc tụng kinh nầy bốn mươi chín biến và thấp bốn mươi chín ngọn đèn.

Bodhisattva Savior replied, “Venerable! Patient who wish to be delivered  from pain and sickness should observe the eight precepts for seven days and nights. According to ability, make offerings of food and other necessities to the Sangha. He should make offerings and pay homage to Lokajyestha, Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata. He should recite this sutra forty-nine times, and light 49 lanterns.

---Lại tạo bảy hình tượng để bảy ngọn đèn, mỗi ngọn lớn như bánh xe, đốt luôn trong bốn mươi chín ngày đêm đừng cho tắt; còn cái thần quang thì làm bằng hàng ngũ sắc bề dài 49 gang tay và phải phóng sanh 49 loài vật thì người bịnh ấy qua khỏi cơn ách nạn, không còn bị hoạnh tử và bị các loài quỷ nhiểu hại.

He should place seven lanterns in front of the seven images of this Tathagata. The lamps should be as big as cartwheels. For the duration of forty-nine days, the flame must be burning unceasingly. He should hang a five colored banner of forty-nine span long. He should set free a variety of animals, numbering forty-nine. In this way, he will overcome his calamities, and be saved from misfortunes and demons.

---Lại nữa, A-Nan nếu trong giòng sát đế lỵ có những vị quốc vương đã làm lễ quán đảnh mà gặp lúc có nạn, nhân dân bị bịnh dịch, bị nước khác xâm lăng, bị nội loạn, hay bị nạn tinh tú biến ra nhiều điềm quái dị nạn nhựt thực, nguyệt thực, mưa gió trái mùa, hay bị nạn quá thời tiết không mưa, thì lúc ấy các vị quốc vương kia phải đem lòng từ bi thương xót tất cả chúng hữu tình, ân xá cho tội nhơn bị giam cầm.

Furthermore, Ananda, if a Kshatriya, or emperor, in time of upheaval, may it be epidemic, invasion, rebellion, ominous phenomenon, eclipse, flood or drought. The kshatriya or emperor should be compassionate to all beings, and pardon those in jail.

---Rồi y theo phép cúng dường đã nói trước mà cúng dường Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai thì do căn lành nầy và nhờ sức bổn nguyện của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai khiến trong nước liền được an ổn, mưa hòa gió thuận, lúa thóc được mùa, tất cả chúng hữu tình đều vui vẻ, không bịnh hoạn, không có Dạ Xoa bạo ác, não hại lê dân.  Tất cả các tướng ấy đều ẩn mất và các vị quốc vương kia được sống lâu sức mạnh, không bịnh hoạn, mọi việc đều thêm lợi ích.

He should make offerings to Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata, as mentioned above. 

With this merit and by the pledge of the Tathagata, peace will be restored to the kingdom. The weather and harvest will also be restored to normalcy. All the citizens will be healthy and happy. There will be no evil spirits or demons that can endanger the citizens.  This Kshatriya or emperor will have good health and longevity.

---Nầy A-Nan, nếu các hoàng hậu, hoàng phi, công chúa, thái tử, vương tử, đại thần phụ tướng, thể nữ trong cung, bá quan và thứ dân mà bị bịnh khổ cùng những ách nạn khác thì cũng nên tạo lập thần phang năm sắc, chong đèn sáng luôn, phóng sanh các loài vật, rải hoa đủ sắc, đốt các thứ danh hương để cúng dường Đức Phật Dược Sư, sẽ được lành bịnh và thoát khỏi các tai nạn.

Ananda, if the queen, crown prince, princes, princesses ministers, court councils, maids, bureaucrats, or citizens fall into sickness or misfortune, they should hang the five colored magic baner, and light th illuminating latern. They should set free animals. They should make offerings of a variety of flowers and incense. By these deeds, all sicknesses will heal, and misfortunes will be avoided. 

---Lúc ấy ông A-Nan hỏi Cứu Thoát Bồ Tát rằng: “Thiện nam tử, tại sao cái mạng đã hết mà còn sống thêm được?”

Ananda then asked the Bodhisattva Savior: “Pious man, how can a life that is terminated be prolonged?”

---Cứu Thoát Bồ tát nói: “Bạch Đại Đức, Đại Đức há không nghe Như Lai nói có chín thứ hoạnh tử hay sao? Vậy nên ta khuyên người làm phang và đèn tục mạng, tu các phước đức và nhờ có tu các phước đức ấy nên suốt đời không bị khổ sở hoạn nạn.”

The Bodhisattva Savior replied, “Venerable, have you not heard of the nine untimely deaths? I exhort others to hang the life prolonging banner and lanterns, cultivate merits and virtue. Because of these pious deeds, one dies of natural causes without suffering.”

---Ông A-Nan hỏi: “Chín thứ hoạnh tử là những thứ chi?”

Ananda asked, “What are the nine untimely deaths?”

---Cứu Thoát Bồ Tát trả lời—The Bodhisattva Savior replied: 

1)       Một là nếu có chúng hữu tình nào bị bịnh tuy nhẹ, nhưng không thầy, không thuốc, nên bịnh không đáng chết mà lại chết ngang. Lại đang lúc bịnh mà tin theo những thuyết họa phước vu vơ của bọn tà ma ngoại đạo, yêu nghiệt trong đời, sanh lòng rúng sợ không còn tự chủ đối với sự chân chánh, đi bói khoa để tìm hỏi mối họa rồi giết hại loài vật để tấu với thần linh, vái van cùng vọng lượng để cầu xin ban phước, mong được sống lâu, nhưng rốt cuộc không thể nào được. Bởi si mê lầm lạc, tin theo tà kiến điên đảo nên bị hoạnh tử, đọa vào địa ngục đời đời không ra khỏi—The first untimely death: There are those who may have a mild ailment, but cannot get treatment or get a wrong diagnosis. They die even when they are not supposed to. There are those who believe in sorcery, magic and fortune telling. Frightened and worrying, they seek oracles. They scarify the living as offerings to devas and spirits. They pray for fortune and longevity. It is impossible. This ignorance and erratic behavior causes untimely death. They fall into hell with no way out.    

2)       Hai là bị phép vua tru lục: The second untimely is executed by the law.

3)       Ba là sa đắm sự chơi bời, săn bắn, đam mê tửu sắc, buông lung vô độ, bị loài quỷ đoạt mất tinh khí: The third untimely death is when one indulges in the pleasure of hunting , in women and drink, without discipline and limit. Their vitalitiesare sucked out by spirits.

4)       Bốn là bị chết thiêu: The fourth untimely death is from burning.

5)       Năm là bị chết đắm: The fifth untimely death is by drowning.

6)       Sáu là bị các thú dữ ăn thịt: The sixth untimely death is being killed by wild beast.

7)       Bảy là bị sa từ trên núi cao xuống: The seventh untimely death is fallen off a cliff.

8)       Tám là bị chết vì thuốc độc, ếm đối, rủa nộp, trù ẻo và bị quỷ tử thi làm hại: The eighth untimely death is being poisoned, cursed or bewitched.

9)       Chín là đói khát khốn khổ mà chết: The ninth untimely death is from hunger and thirst.

---Đó là chín thứ hoạnh tử của Như Lai nói. Còn những thứ hoạnh tử khác nhiều vô lượng không thể nói hết được.

These are the nine untimely deaths discoursed by the Tathagata. There are many more types. It will take a long time to explain.

---Lại nữa, A-Nan, vua Diêm Ma kia là chủ lãnh ghi chép sổ bộ, tên tuổi tội phước trong thế gian. Nếu có chúng hữu tình nào ăn ở bất hiếu, ngũ nghịch, hủy nhục ngôi Tam bảo, phá hoại phép vua tôi, hủy phạm điều cấm giới thì vua Diêm Ma pháp vương tùy tội nặng nhẹ mà hành phạt. Vì thế ta khuyên chúng hữu tình nên thắp đèn làm phang, phóng sanh, tu phước khiến khỏi được các khổ ách, khỏi gặp những tai nạn.

Moreover, Ananda, Yama has records of all beings. Those who have committed the five deadly sins, malign the Three Jewels, breaking laws and moralities, Yama will award punishment accordingly. Therefore, I advise everyone to light the lanterns and hang the banner. They should set free animals and accumulate merits. Then, they can avoid calamities and misfortune.”

---Lúc bấy giờ trong hàng đại chúng có mười hai vị Dược Xoa đại tướng đều ngồi trong hội như—In the congregation, there are twelve Yaksha generals, they are :

1)       Cung tì la Đại tướng: General Kumbhira.

2)       Phạt chiếc la đại tướng: General Vajra.

3)       Mê-Súy-La đại tướng: General Mihira.

4)       An-Để-La đại tướng: General Andira.

5)       Át Nể La đại tướng: General Majira.

6)       San-Để-La đại tướng: General Shandira.

7)       Nhơn Đạt La đại tướng: General Indra.

8)       Ba Di La đại tướng: General Pajra.

9)       Ma Hổ La đại tướng: General Makuram.

10)    Chơn Đạt La đại tướng: General Sindura.

11)    Chiêu Đỗ La đại tướng: General Catura.

12)    Tỳ Yết La đại tướng: General Vikarala.

---Mười hai vị đại tướng nầy mỗi vị đều có bảy ngàn Dược Xoa làm quyến thuộc đồng cất tiếng bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, hôm nay chúng tôi nhờ oai lực của Phật mà được nghe danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, không còn tâm sợ sệt trong các đường ác thú nữa. Chúng tôi cùng nhau, đồng một lòng trọn đời quy-y Phật, Pháp, Tăng, thề sẽ gánh vác cho chúng hữu tình, làm việc nghĩa lợi đưa đến sự nhiêu ích an vui. Tùy nơi nào hoặc làng xóm, thành, nước, hoặc trong rừng cây vắng vẻ, nếu có kinh nầy lưu bố đến hay có người thọ trì danh hiệu Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai và cung kính cúng dường Ngài, thì chúng tôi cùng quyến thuộc đồng hộ vệ người ấy thoát khỏi tất cả ách nạn và khiến họ mong cầu việc chi cũng đều được thỏa mãn. Nếu có ai bị bịnh hoạn khổ ách, muốn cầu cho khỏi thì cũng nên đọc tụng kinh nầy và lấy chỉ ngũ sác gút danh tự chúng tôi, khi đã được như lòng mong cầu thì mời mở gút ra.       

Each of the twelve Yaksha General has an army of seven thousand Yakshas. The unanimously pledged to the Buddha. “Lokajyestha, by the Buddha’s power, we hae learned of the name Lokajyestha Bhaisajyaguru vaidurya Prabhasa Tathagata, we have no more fear or evil rebirth. We all sincerely take refuge in the Buddha, the Dharma and the Sangha for the rest of our natural lives. We will serve all beings, promote their benefit and comfort. Any town or village, country or forest, wherever this Sutra is preached, and wherever the name Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata is venerated, we and our army will protect the faithful and rescue them from calamity. All their wishes will be fulfilled. Those in sickness and danger should recite this sutra. They should take a five colored skein, and tie it into knots to form our names. They can untie the knots when the wishes are fulfilled.

---Lúc ấy Đức Phật Thích Ca khen các vị Dược Xoa đại tướng rằng: “Hay thay! Hay thay! Đại Dược Xoa tướng, các ngươi nghĩ muốn báo đáp ân đức của Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai nên mới phát nguyện làm những việc lợi ích an vui cho tất cả chúng hữu tình như vậy.”Lokajyestha praised the Yaksha Generals, “Excellent! Excellent! Yakshas generals, you are mindful of repaying the benevolence of Lokajyestha Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata. You should always  work to benefit and comfort all the living.

---A Nan lại bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Pháp môn nầy  gọi tên là gì? Và chúng tôi phải phụng trì bằng cách nào?

Ananda then asked the Buddha, “Lokajyestha, how should we name this teaching? How should we be mindful of it?”

---Phật bảo A-Nan: “Pháp môn nầy gọi là Thuyết Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức, cũng gọi là Thuyết Thập Nhị Thần Tướng Nhiêu Ích Hữu Tình Kiết Nguyện Thần Chú và cũng gọi là Bạt Trừ Nhứt Thế Nghiệp Chướng. Cứ nên đúng như vậy mà thọ trì.”

Buddha said to Ananda, “This teaching is called the Sutra on the merits and virtues of the original pledges by the Bhaisajyaguru Vaidurya Prabhasa Tathagata. It is also called the Twelve Yaksa Generals pledging to benefit all beings Dharani. It is also called Eradicate All Karmic Hindrances. You should bear this in mind.”

---Khi Đức Bạt Già Phạm nói lời ấy rồi, các hàng Đại Bồ Tát, các Đại Thinh Văn, cùng quốc vương, Đại thần, Bà la môn, cư sĩ, Thiên, Long, Da Xoa, Càng Thát Bà, A Tu La, Yết Lộ trà, Khẩn na la, Ma hầu la dà, người cùng các loài quỷ thần, tất cả đại chúng đều hết sức vui mừng và đồng tin chịu vâng làm—After the Bhagavan has discoursed this teaching, all Bodhisattvas Mahasattvas, Elder Sramanas, Kings and Ministers, Brahmins, Upasakas, Upasikas, Devas, Nagas, Yaksas, Gandharvas, Asuras, Garudas, Kinnaras, Mahoragas, Humans and spirits, everyone in the assembly, hearing the Buddha’s discourse, all greatly rejoiced, accepted and followed the teachings faithfully.

 

 

Kinh Hoa Nghiêm Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện: Avatamsaka Sutra, Chapter 40: The Practices and Vows of the Bodhisattva Universal Worthy

---Lúc bấy giờ ngài Phổ Hiền đại Bồ Tát khen ngợi công đức thù thắng của Đức Như Lai rồi bèn bảo các vị Bồ Tát và Thiện Tài rằng: Nầy thiện nam tử! Công

Đức của Như Lai, giả sử cho tất cả các đức Phật ở mười phương, trải qua số kiếp nhiều như cực vi trần trong bất khả thuyết cõi Phật diễn nói không ngừng, cũng không thể trọn hết được. 

At that time, having praised the exalted merits and virtues of the Thus Come Ones, the Bodhisattva Universal Worthy addressed the Bodhisttvas, along with Good Wealth, as follows: “Good men, even if all the Buddhas of the ten directions were to speak continuously , for as many eons as there are fine motes of dust in an ineffably ineffable number of Buddha lands, the virtues and merits of the Thus Come Ones could never be fully described.

---Nếu  ai muốn trọn nên công đức của Phật, thời phải tu mười điều hạnh nguyện rộng lớn. Những gì là mười điều?

Those wishing to achieve these merits and virtues should cultivate ten vast and great practices and vows. What are these ten?

---Một là lễ kỉnh các đức Phật.

    First, worship and respect all Buddhas.

    Hai là khen ngợi đức Như Lai.

    Second, praise the Thus Come Ones.

    Ba là rộng sắm đồ cúng dường.

    Third, make abundant offerings.

    Bốn là sám hối các nghiệp chướng.

    Fourth, repent misdeeds and hindrances.

    Năm là tùy hỷ các công đức.

    Fifth, Rejoice at others’ merits and virtues. 

    Sáu là thỉnh các đức Phật thuyết pháp.

    Sixth, request the Buddha to turn the

    Dharma wheel.

    Bảy là thỉnh các đức Phật ở lại đời.

    Seventh, request the Buddha to remain

    in the world.

    Tám là thường học tu theo Phật.

   Eighth, follow the teachings of the     Buddha

    Chín là hằng thuận chúng sanh.

   Ninth, accommodate and benefit all      

   sentient beings.

    Mười là hồi hướng khắp tất cả.

   Tenth, transfer merits and virtues    

   universally.

---Thiện Tài bạch rằng: “Đại Thánh! Lễ kính như thế nào, cho đến hồi hướng như thế nào?

Good Wealth then said, “Great Sage, what is meant by worshipping and respecting all Buddhas, up to transferring all merits and virtues universally?”

1)  Phổ Hiền Bồ Tát bảo Thiện Tài rằng: “Nầy thiện nam tử! Nói lễ kính các đức Phật là như vầy: Bao nhiêu các đức Phật Thế Tôn nhiều như số cực vi trần trong cõi Phật khắp pháp giới hư không giới mười phương ba đời, tôi do nơi hạnh nguyện của Phổ Hiền thâm tâm tín giải như đối trước mắt, đều dùng thân, khẩu, ý ba nghiệp thanh tịnh thường tu hạnh lễ kính. Nơi mỗi đức Phật đều hóa hiện thân nhiều như số cực vi trần trong bất khả thuyết cõi Phật. Mỗi thân đều khắp lễ kính các đức Phật nhiều như số cực vi trần trong bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật. Cõi hư không kia hết, sự lễ kính của tôi mới hết. Nhưng cõi hư không chẳng cùng tận nên sự lễ kính của tôi cũng không cùng tận. Nhẫn đến cõi chúng sanh hết, nghiệp chúng sanh hết, phiền não chúng sanh hết, sự lễ kính của tôi mới dứt. Nhưng cõi chúng sanh cho đến phiền não chẳng hết, nên sự lễ kính của tôi cũng không cùng tận, niệm niệm nối luôn không hở, ba nghiệp thân khẩu ý không hề nhàm mỏi.

The Bodhisattva Universal Worthy replied to Good Wealth, “Good Man, worshipping and respecting all Buddhas  

means the following: All Buddhas, World Honored Ones, are as numerous as fine motes of dust in all Buddha lands in the ten directions and the three periods of time, to the exhaustion  of the Dharma Realm and empty space. Because of the power of Universal Worthy Bodhisattva’s conduct and vows, I have a mind of deep faith and understanding of them as if they were before my eyes.”

“With my body, mouth, and mind karma completely pure, I constantly worship and respect them. In each and every place where there are Buddhas, I manifest bodies as numerous as fine motes of dust in ineffably ineffable numbers of Buddha lands.”

“Each and every body everywhere worships and respects Buddha as many as the fine motes of dust in ineffably ineffable numbers of Buddha lands.”

“When the realm of empty space is exhausted. But because the realm of empty space is inexhaustible, my worship and respect will never end. In the same way, when the realm of living beings, the karma of living beings, and the afflictions of living beings are exhausted, my worship and respect will be exhausted. But the realm of living beings, the karma of living beings, and the afflictions of living beings are inexhaustible. Therefore, my worship and respect are inexhaustible. They continue in thought after thought without cease. My body, mouth, and mind never tire of doing these deeds.”

2)  Lại nầy thiện nam tử! Nói “Khen ngợi đức Như Lai” là như vầy:

Bao nhiêu số cực vi trần trong cõi nước khắp cùng hư không pháp giới mười phương ba đời , trong mỗi cực vi trần đều có các đức Phật nhiều như số cực vi trong tất cả thế gian. Nơi mỗi đức Phật đều có rất đông Bồ Tát vây quanh nhóm họp. Tôi phải trọn dùng sức thậm thâm thắng giải tri kiến hiện tiền, đều dùng lưỡi vi diệu hơn Biện Tài thiên nữ. Mỗi lưỡi phát xuất vô tận âm thinh  hải. Mỗi âm thinh diễn xuất tất cả ngôn từ hải, khen ngợi các công đức hải của tất cả đức Như Lai, ca ngợi đến tột đời vị lai nối luôn không dứt, khắp cả pháp giới không sót chỗ nào. Như vậy hư không giới, chúng sanh giới, chúng sanh nghiệp, chúng sanh phiền não đều hết, thời sự khen ngợi công đức chư Phật của tôi đây mới cùng tận. Nhưng cõi hư không kia cho đến phiền não của chúng sanh chẳng cùng tận, nên sự khen ngợi của tôi cũng không cùng tận, niệm niệm nối luôn không hở, ba nghiệp thân khẩu ý không hề nhàm mỏi.

“Moreover, good man, to praise the Thus Come Ones is explained like this: In each fine mote of dust in all lands throughout the ten directions and the three periods of time, exhausting the dharma realm and empty space, there are Buddhas as numerous as fine motes of dust in all worlds. Each of these Buddhas is circumambulated by an ocean-wide assembly of Bodhisattvas. With my profound and supreme understanding, I know and see them all. Each of my bodies brings forth a tongue of subtle and wonderful eloquence surpassing the skillful speech of even Sarasvati, the goddess of eloquence. Each tongue brings forth an inexhaustible sea of sounds. Each sound emits an ocean of all words, praising and glorifying all the Thus Come Ones’ sea of all merit and virtue. These praises  continue without cease to the end of the boundaries of the future. Exhausting the dharma realm, these sounds reach everywhere. When the realm of empty space is exhausted, when the realms of living beings are exhausted, when the karma of living beings is exhausted, and when the afflictions of living beings are exhausted, only then will my praise be exhausted. But just as the realm of empty space up to and including living beings’ afflictions are endless, so too are my praises endless. They continue in thought after thought without cease. My body, mouth and mind never tire of doing these deeds.” 

3) Lại nầy thiện nam tử! Nói “Rộng sắm đồ cúng dường” là như vầy: Bao nhiêu số vi trần trong khắp cõi Phật cùng hư không pháp giới mười phương ba đời, trong mỗi cực vi trần đều có chư Phật như số cực vi trần trong tất cả thế giới, nơi mỗi đức Phật có vô số Bồ Tát vây quanh nhóm họp. Tôi dùng sức hạnh nguyện của Ngài Phổ Hiền mà khởi lòng tín giải rất sâu và hiện tiền tri kiến, đều đem đồ cúng dường thượng diệu mà cúng dường pháp hội của Phật. Như là mây hoa, mây tràng hoa, mây âm nhạc cõi trời, mây tàng lọng cõi trời, mây y phục cõi trời, các thứ hương trời: hương xoa, hương đốt, hương bột. Các thứ mây trên đây thảy đều nhiều lớn như núi Tu Di.

Moreover, good man, to make abundant offerings is explained like this: In every mote of dust in all the Buddha lands throughout the ten directions and the three periods of time, exhausting the dharma realm of empty space, there are Buddhas as many as the fine motes of dust in all worlds. Each Buddha is circumambulated by various kinds of sea-loke assemblies of Bodhisattvas. With the power of Universal Worthy’s practice and vows, I am able to deeply believe in and understand them. I can know and see them all. To each I make offerings of superb and wonderful gifts. That is to say, clouds of flowers, clouds of garlands, clouds of heavenly music, clouds of divine canopies, clouds of heavenly clothing, all varieties of heavenly incense, fragrant balms, burning incense, powdered incense, and clouds of gifts such as these; each cloud is as large as Sumeru, the king of mountains.

---Lại thắp các thứ đèn: đèn tô lạc, đèn dầu, các thứ đèn dầu thơm; mỗi tim đèn lớn như núi Tu Di, dầu trong đèn như nước bể cả. Đem các thứ đồ cúng dường như trên để thường cúng dường.

I burn all kinds of lamps, butter lamps, oil lamps, and lamps of many fragrant oils. The wick of each lamp is as tall as mount Sumeru; the quantity of oil in each lamp is equal in volume to the waters of the great sea. With all manner of gifts such as these, I constantly make offerings.

---Thiện nam tử! Trong các thứ cúng dường, pháp cúng dường là hơn hết. Pháp cúng dường là: Tu Hành đúng theo lời Phật dạy để cúng dường, làm lợi ích cho chúng sanh để cúng dường, chịu khổ thế cho chúng sanh để cúng dường, nhiếp thọ chúng sanh để cúng dường, siêng năng tu tập căn lành để cúng dường, không bỏ hạnh Bồ tát để cúng dường, chẳng rời tâm Bồ Đề để cúng dường.

Good man, of all offerings, the gift of dharma is supreme. That is to say, the offering of cultivating according to the teachings, the offering of benefiting all living beings, the offering which gathers in all living beings, the offering of standing in for all beings to undergo their suffering, the offering of diligently cultivating good roots, the offering of not forsaking the deeds of the Bodhisattva, and the offering of not renouncing the Bodhi mind.

     Thiện nam tử! Như vô lượng công đức của sự cúng dường trước kia sánh với một niệm công đức của pháp cúng dường, thời không bằng một phần trăm, không bằng một phần ngàn, không bằng một phần trăm ngàn, cu chi na do tha, một phần ca la, một phần toán, một phần số, một phần dụ, cũng chẳng bằng một phần ưu ba ni sa đà. Vì sao? Vì các đức Như Lai tôn trọng chánh pháp. Vì theo đúng như lời Phật dạy mà tu hành thì sanh ra các đức Phật. Nếu các Bồ Tát thực hành pháp cúng dường, thì trọn nên sự cúng dường Phật. Tu hành như vậy mới thật là cúng dường. Nên pháp cúng dường là sự cúng dường rất rộng lớn hơn tất cả.

Good man, the immeasurable merit and virtue created from making those offerings, when compared with the merit and virtue from a single thought of offering dharma, does not equal one part in a hundred, one part in a thousand, one part in a hundred thousand kotis of nayutas, one part in a kala, one part by reckoning , one part by calculation, one part that can be demonstrated by comparison, or one part in an upanishad. None of them measure up to a single part. Why is this? Because all Thus Come Ones  honor the dharma. Cultivating according to the teachings gives birth to all Buddha. If all Bodhisattvas make the offerings to all Thus Come Ones. Cultivation in this manner is a true offering, a vast, great, and most supreme offering. 

     Cõi hư không cùng tận, cõi chúng sanh cùng tận, nghiệp chúng sanh cùng tận, sự cúng dường của tôi mới cùng tận, nhưng cõi hư không cho đến phiền não chẳng cùng tận, nên sự cúng dường của tôi cũng không cùng tận, niệm niệm nối luôn không hở, thân khẩu ý nghiệp không hề nhàm mỏi. 

When the realm of empty space is exhausted, when the realms of living beings are exhausted, when the karma of living beings is exhausted, when the afflictions of living beings come to an end, only then will my making of offerings be exhausted. Just as the realm of empty space up to and including the afflictions are endless, so too are my making of offerings endless. In thought after thought without cease, my body, mouth, and mind never weary of these deeds.  

     Lại nầy thiện nam tử! Nói “Sám hối nghiệp chướng” là như vầy: Bồ Tát tự nghĩ rằng: Tôi từ vô thỉ kiếp về quá khứ, do lòng tham lam, sân hận, ngu si khiến thân khẩu ý tạo vô lượng vô biên nghiệp ác. Nếu các nghiệp ác nầy mà có hình tướng, thì khắp cõi hư không cũng chẳng hề đựng chứa hết được. Nay tôi đem trọn cả ba nghiệp trong sạch đối các đức Phật và chúng Bồ Tát khắp cực vi trần cõi nước trong pháp giới, thành tâm sám hối, về sau không tái phạm nữa, thường an trụ nơi giới pháp trong sạch đầy đủ công đức lành. Như vậy hư không giới cùng tận, chúng sanh giới cùng tận, chúng sanh nghiệp  cùng tận, chúng sanh phiền não cùng tận, thì sự sám hối của tôi mới cùng tận. Nhưng hư không giới cho đến chúng sanh phiền não chẳng cùng tận, nên sự sám hối của tôi đây cũng không cùng tận, niệm niệm nối luôn không hở, thân khẩu ý ba nghiệp không hề nhàm mỏi.

Moreover, good man, to repent misdeeds and mental hindrances is explained like this: The Bodhisattva reflects from beginningless kalpas in the past, I have created all measureless and boundless evil karma with my body, mouth and mind, because of greed, hatred and stupidity. If this evil karma had a substance and form, all of empty space could not contain it. I now completely purify these three karmas and before the assemblies of all Buddhas and Bodhisattvas, throughout the dharma realm in lands as many as fine motes of dust, I sincerely repent of and reform my offenses and vow never to create them again. I will always dwell in all merit and virtue of the pure precepts.

So it is that when the realm of empty space is exhausted, the realms of living beings are exhausted, the karma of living beings is exhausted, and the afflictions of living beings are exhausted, then my repentance will be exhausted. But just as the realm of empty space up to the afflictions of living benigs are endless, so too my repentance and reform are endless. They continue in thought after thought without cease. My body, mouth, and mind weary of these deeds. 

     Lại nầy thiện nam tử! Nói “Tùy hỷ công đức” là thế nầy: Bao nhiêu đức Phật như số vi trần trong tất cả cõi Phật khắp hư không pháp giới mười phương ba đời, từ khi mới phát tâm vì muốn chứng nhất thiết trí mà siêng  tu  cội phước chẳng tiếc thân mạng, trải qua số kiếp như số cực vi trần trong bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật. Mỗi kiếp đều thí xả đầu, mắt, tay, chân…nhiều như số cực vi trong bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật; làm tất cả những hạnh khó làm như vậy, đầy đủ các món ba-la-mật, chứng nhập các trí địa của Bồ Tát, trọn nên quả vô thượng Bồ Đề của chư Phật, cho đến nhập niết bàn phân chia xá lợi. Bao nhiêu căn lành ấy tôi đều tùy hỷ cả. Moreover, good man, to “Rejoice at others’ merits and virtues” is explained

like this: All the Buddhas, Thus Come Ones, as numerous as the fine dust motes in all  the Buddha lands of the ten directions and the three periods of time throughout the Dharma Realm and the realm of empty space, from the time of their initial resolve for all wisdom, diligently cultivated accumulation of blessings without regard for their bodies and lives. They did this throughout kalpas as many as fine motes of dust in ineffably ineffable Buddha lands.  During each kalpa they gave up their heads, eyes, hands, and feet, as many times as there are dust motes in ineffably ineffable Buddha lands.

In this way they cultivated all the difficult ascetic practices and perfected the gates of the various paramitas. They entered and were certified to each of the Bodhisattva grounds of wisdom and accomplished the unsurpassed Bodhi of all Buddhas. Upon their Parinirvana, their sgrira were divided and distributed. I completely follow along with and rejoice in all of their good roots.

     Đến các loài lục thú, tứ sanh trong tất cả mười phương thế giới kia có bao nhiêu công đức, dầu nhỏ như mảy trần, tôi đều tùy hỷ. Mười phương ba đời tất cả các vị Thanh văn, Bích Chi Phật, hữu học và vô học có bao nhiêu công đức tôi đều tùy hỷ. Tất cả chư Bồ Tát tu hạnh cần khổ khó làm, chí cầu quả vô thượng chánh đẳng công đức rộng lớn, tôi đều tùy hỷ. Như vậy, hư không giới cùng tận, chúng sanh giới cùng tận, chúng sanh nghiệp cùng tận, chúng sanh phiền não cùng tận, sự tùy hỷ của tôi đây không có cùng tận, niệm niệm nối luôn không hở, ba nghiệp thân khẩu ý không hề nhàm mỏi.  

     Moreover, as for all the different types of beings in the six paths and the four kinds of birth in every world in the ten directions, I follow along with and rejoice in their merit and virtue as well, even if it is as small as a mote of dust. I completely follow along with and rejoice in the merit and virtue of all the sound hearers, Pratyeka Buddhas, Learners, and Those Beyond Study in the ten directions and the three periods of time. I follow along with and rejoice in the vast and great merit for unsurpassed, right, equal Bodhi, cultivate measureless difficult ascetic practices.

So it is that even if the realm of empty space is exhausted, the realms of living beings are exhausted, the karma of living beings is exhausted, and the afflictions of living bengs are exhausted, my following and rejoicing are endless. They continue in thought after thought without cease. My body, mouth and mind never weary of these deeds.

     Lại nầy thiện nam tử! nói “Thỉnh Phật thuyết pháp” là thế nầy: Trong số cực vi khắp hư không pháp giới mười phương ba đời tất cả cõi Phật. Mỗi cực vi đều có cõi Phật rộng lớn nhiều như số cực vi trong bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật. Mỗi cõi trong một niệm đều có tất cả chư Phật thành đẳng chánh giác số đông như số cực vi trong bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật, tất cả chúng Bồ Tát nhóm họp vây quanh. Tôi đều đem thân khẩu ý ba nghiệp dùng những phương tiện ân cần khuyên mời tất cả Phật nói pháp nhiệm mầu. Như vậy hư không giới cùng tận, chúng sanh giới cùng tận,  chúng sanh nghiệp cùng tận, chúng sanh phiền não cùng tận, tôi luôn khuyên mời tất cả các đức Phật chuyển pháp luân chơn chánh không cùng tận, niệm niệm nói luôn không hở, ba nghiệp thân khẩu ý không thể nhàm mỏi.

     Moreover, good man, to “Request the Buddha to Turn the Dharma Wheel” is explained like this: Within each and every fine mote of dust in the Buddha lands throughout the ten directions and the three periods of time, throughout the dharma realm and the realm of empty space, there are vast and great Buddha lands as many as fine motes of dust in ineffably ineffable Buddha lands. In each and every land, in thought after thought,

There are all Buddhas accomplishing equal and right enlightement, their number as many as fine motes of dust in ineffably ineffable Buddha lands. A sea-like assembly of Bodhisattvas circumambulates each Buddha.  Using all manner of skillful means of body, mouth, and mind, I sincerely and diligently request that they turn the wonderful dharma wheel. So it is that even if the realm of empty space is exhausted, the realms of living beings are exhausted, the karma of living beings is exhausted, and the afflictions of living beings are exhausted, my request that all Budhas turn the proper dharma wheel is without end. It continues in thought after thought without cease. My body, mouth and mind never weary of these deeds. 

     Lại nầy thiện nam tử! Nói “Thỉnh Phật ở lại đời”  là như  vầy: Các đức Như Lai như số cực vi trong tất cả cõi Phật khắp hư không pháp giới mười phương ba đời toan muốn thị hiện nhập niết bàn, cùng các Bồ tát, Thinh Văn, Duyên Giác, hữu học, vô học, cho đến tất cả các bậc thiện tri thức, tôi đều khuyên mời xin đừng nhập niết bàn, xin ở lại đời trải qua vô số kiếp như vi trần trong tất cả cõi Phật, vì muốn cho tất cả chúng sanh được lợi lạc. Như vậy cõi hư không cùng tận, cõi chúng sanh cùng tận, nghiệp chúng sanh cùng tận, phiền não chúng sanh cùng tận, sự khuyên mời của tôi đây vẫn không cùng tận, niệm niệm nối luôn không hở, ba nghiệp thân khẩu ý không hề nhàm mỏi. 

     Moreover, good man, to “Request the Buddha to Remain in the World” is explained like this: All Buddhas, Thus Come Ones, are as numerous as fine motes of dust in all Buddha lands throughout the ten directions and the three periods of time, exhausting the dharma realm and the realm of empty space. When they are about to enter Parinirvana, along with all Bodhisattvas, Sound Hearers, Those Enlightened to Conditions, Learners, and Those Beyond Study, including all good knowing advisors, I ask them all not to enter Nirvana. I request that they remain in the world for as many kalpas as there are fine motes of dust in all Buddha lands, bringing benefit and bliss to all living beings. So it is that even if the realm of empty space is exhausted, the realms of living beings are exhausted, the karma of living beings is exhausted, and the afflictions of living beings are exhausted, still my request is endless. It continues in thought after thought without cease. My body, mouth and mind never weary of these deeds.

     Lại nầy thiện nam tử! Nói “Thường tùy học Phật” là thế nầy: Như đấng Tỳ Lô Giá Na Phật ở cõi Ta Bà đây, từ khi mới phát tâm tinh tấn không trễ lui, đem bất khả thuyết bất khả thuyết thân mạng ra mà bố thí. Lột da làm giấy, chẻ xương làm viết, chích máu làm mực dùng biên chép kinh điển chất cao như núi Tu Di, vì tôn trọng chánh pháp nên Phật không tiếc thân mạng, huống là ngôi vua, thành ấp, cung điện, vườn, rừng…Cùng thực hành bao nhiêu hạnh khó làm khác.

     Moreover, good man, to “Follow the teachings of the Buddha at all times” is explained like this: I will be like Vairocana Thus Come One of this Saha world, who, from the time he first resolved his mind, never retreated from vigor. He gave up ineffably ineffable numbers of bodies and lives. He peeled off his skin for paper, split his bones to fashion brushes, drew blood for ink, and wrote out sutras stacked as high as mount Sumeru. Because he valued the dharma, he did not cherish his own body or life. How much the less did he crave a king’s throne, cities, towns, palaces, gardens, groves, or any material things at all. He exerted himself to the extreme in the different kinds of difficult ascetic practices. 

     Nhẫn đến ngồi dưới cây thành quả đại Bồ Đề, thị hiện các thứ thần thông, khởi các sự biến hóa, hiện các thân Phật ở trong những chúng hội đạo tràng của các vị đại Bồ Tát, hoặc ở trong đạo tràng của chúng hội Thinh Văn Duyên Giác, hoặc ở trong đạo tràng của Chuyển Luân vương, các vị tiểu vương  cùng quyến thuộc, hoặc ở trong đạo tràng của chúng hội Cư sĩ, Trưởng giả, Bà la môn cùng sát đế lợi, nhẫn đến hoặc ở trong đạo tràng của chúng hội Thiên, Long, bát bộ, nhơn, phi nhơn…ở trong các chúng hội như vậy, dùng tiếng viên mãn như đại lôi chấn, tùy theo căn tánh của mỗi hạng mà giáo hóa cho chúng sanh đều được thành thục. Nhẫn đến thị hiện nhập Niết bàn.

     He accomplished the great enlightenment beneath the tree, manifested different kinds of spiritual powers, gave rise to different kinds of transformations, made appear different kinds of Buddha bodies, and dwelled in different kinds of assemblies. He dwelled amidst the assemblies of Bodhimandas of all great Bodhisattvas, the assemblies of Sound Hearers, the assemblies of Pratyeka-Buddhas. He dwelled amidst the assemblies in the Bodhimandas of Wheel Turning sage kings and the retinues of lesser  kings. He dwelled amidst the assemblies in the Bodhimandas of kshatriyas, brahmans, elders, and lay people, up to and including assemblies of gods, dragons, and the remaining eight divisions, and humans and non-humans. As  he dwelled in various different assemblies such as these, with a voice which was full and perfect like a great thunder clap, he brought all living beings to maturity according with their likes and wishes up until the time he manifested Nirvana.

     Cả thảy hạnh đức như thế tôi đều học tập theo. Như đức Thế Tôn Tỳ Lô Giá Na hiện nay, các đức Phật Như Lai như số vi trần trong tất cả cõi Phật khắp hư không pháp giới mười phương ba đời cũng như thế ấy, trong mỗi niệm tôi đều học tập theo. Như vậy cõi hư  không cùng tận, cõi chúng sanh cùng tận, nghiệp chúng sanh cùng tận, phiền não chúng sanh  cùng tận, sự tùy học của tôi đây không cùng tận, niệm niệm nối luôn không hở, ba nghiệp thân khẩu ý không hề nhàm mỏi.  

     In all these ways I will learn from the Buddhas, and just as it is with the present World Honoured One Vairocana, so it is with all the Thus Come Ones in every dust mote in all Buddha lands in the ten directions and the three periods of time, throughout the dharma realm and the realm of empty space. In thought after thought I will learn from them all. So it is that even if the realm of empty space is exhausted, the realms of living beings are exhausted, the karma of living beings is exhausted, and th afflictions of living beings are exhausted, still my study with them is without end. It continues in thought after thought without cease. My body, mouth, and mind never weary of these deeds.  

     Lại nầy thiện nam tử! Nói “Hằng thuận chúng sanh” là như vầy: Bao nhiêu chúng sanh sai khác trong tất cả cõi ở mười phương pháp giới, hư không giới, chính là những loài noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh, các loài nương nơi chất tứ đại mà sanh, có giống nương nơi hư không cùng cây cỏ mà sanh. Các giống sanh loại, các thứ sắc thân, các thứ hình trạng, các thứ tướng mạo, các thứ thọ lượng, các thứ tộc loại, các thứ danh hiệu, các thứ tâm tánh, các thứ tri kiến, các thứ dục lạc, các thứ ý hành, các thứ oai nghi, các thứ y phục, các thứ  ăn uống, ở trong các thôn dinh, thành ấp, cung điện, nhẫn đến tất cả thiên long, bát bộ, nhơn, phi nhơn… loài không chân, loài hai chân, bốn chân, nhiều chân, loài có hình sắc, loài không hình sắc, loài có tâm tưởng, loài không tâm tưởng, loài chẳng phải có tâm tưởng chẳng phải không tâm tưởng. Các loài như vậy tôi đều tùy thuận tất cả mà thực hành các sự vâng thờ, cúng dường, như kính cha mẹ, như thờ bậc thầy cùng A-la-hán, nhẫn đến như đức Như Lai đồng nhau không khác.

     Moreover, good man, to “Accommodate and benefit all living beings is explained like this: Throughout seas of kshetras in the ten directions exhausting the dharma realmand the realm of empty space, there are many different kinds of living beings: That is to say, those born from eggs, womb-born, transformationally born, as well as those who live and rely on earth, water, fire, and air for their existence. There are beings dwelling in space, and those who are born in and live in plants and trees. This includes all the many species and races with their diverse bodies, shapes, appearances, lifespans, families, names, and natures. This includes their many varieties of knowledge and views, their various desires and pleasures, their thoughts and deeds, and their many different deportments, clothing and diets. It includes beings who dwell in different villages, towns, cities and palaces, as well as gods, dragons, and others of the eight divisions, humans and non-humans alike. Also there are footless beings, beings with two feet, four feet, and many feet, with form and without form, with thought and without thought, and not entirely with thought and not entirely without thought. I will accord with and take care of all these many kinds of beings, providing all manner of services and offerings for them. I will treat them with the same respect I show my own parents, teachers, elders, Arhats, and even the Thus Come Ones. I will serve them all equally without difference.

     Trong các loài ấy, nếu là kẻ có bịnh thì tôi vì họ mà làm lương y, nếu ai bị lạc đường thì tôi vì họ mà chỉ cho con đường chánh, nơi đêm tối tôi vì họ mà làm ngọn đuốc sáng, người nghèo thiếu tôi làm cho được của báu. Bồ Tát bình đẳng lợi ích cho chúng sanh như vậy. 

     I will be a good doctor for the sick and suffering. I will lead those who have lost their way to the right road. I will be a bright light for those in the dark night, and cause the poor and destitute to uncover hidden treasures. The Bodhisattva impartially benefits all living beings in this manner.

     Vì sao thế? Vì Bồ Tát nếu có thể tùy thuận chúng sanh, thì chính là tùy thuận cúng dường các đức Phật. Còn tôn trọng và thừa sự chúng sanh thì chính là tôn trọng và thừa sự các đức Như Lai. Nếu làm cho chúng sanh vui mừng thì chính là làm cho tất cả Như Lai vui mừng. Vì sao thế?  Vì các đức Như Lai dùng tâm đại bi mà làm thể. Nhơn nơi chúng sanh mà sanh lòng đại bi, nhơn lòng đại bi mà phát tâm bồ đề, nhơn nơi tâm bồ đề mà thành bậc chánh đẳng chánh giác. Ví như giữa chốn sa mạc có cây thọ vương to lớn, nơi gốc cây ấy được nước rưới  nhuần, thì cành lá hoa quả thảy đều sum suê tươi tốt.

     Why is this? If a Bodhisattva accords with living beings, then he accords with and makes offerings to all Buddhas. If he can honor and serve living beings, then he honors and serves the Thus Come Ones. If he makes living beings happy, he is making all Thus Come Ones happy. Why is this? Because all Buddhas, Thus Come Ones, take the mind of great compassion as their substance. Because of living beings they bring forth great compassion. From great compassion the Bodhi mind is born; and because of the resolve for Bodhi, they accomplish Equal and Proper Enlightenment.  

     Cây thọ vương bồ đề ở chốn sa mạc sanh tử rộng lớn cũng như vậy: tất cả chúng sanh là gốc rễ, Bồ Tát là hoa, Phật là quả. Dùng nước đại bi đượm nhuần gốc rễ chúng sanh thì có thể trổ bông Bồ Tát Trí Huệ và kết thành quả Phật Toàn Giác. 

     It is like a great king of trees growing in therocks and sand of barren wilderness. When the roots get water, the branches, leaves, flowers, and fruits will all flourish. The bodhi-tree king growing in the wildernessof birth and death is the same. All living beings are its roots; all Buddhas and Bodhisattvas are its flowers and fruits. By benefiting all beings with water of great compassion, one can realize the flowers and fruits of the Buddhas’ and Bodhisattvas’ wisdom.

     Vì sao thế? Bởi các Bồ tát dùng nước đại bi làm lợi ích cho chúng sanh, thì có thể thành tựu  quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. Cho nên quả Bồ Đề thuộc về chúng sanh, vì nếu không chúng sanh, tất cả Bồ Tát trọn không thể thành đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác.

     Why is this? If all Bodhisattvas benefit living beings with the water of great compassion, they can attain Anuttara SamyakSambodhi. Therefore, Bodhi belongs to living beings. Without living beings, no Bodhisattva could perfect the unsurpassed proper enlightenment.  

     Nầy thiện nam tử! Ông ở nơi nghĩa ấy nên hiểu như thế. Bởi đối với chúng sanh mà tâm bình đẳng thì có thể sanh lòng đại bi đầy đủ hoàn toàn. Dùng tâm đại bi  mà tùy thuận chúng sanh thì có thể thành tựu pháp cúng dường Như Lai. Bồ Tát tùy thuận chúng sanh như thế ấy. Cõi hư không cùng tận, cõi chúng sanh cùng tận, nghiệp chúng sanh cùng tận, phiền não chúng sanh cùng tận, sự tùy thuận chúng sanh của tôi không cùng tận, niệm niệm nối luôn không hở, thân khẩu ý ba nghiệp không hề nhàm mỏi.

     Good man, you should understand these principles in this way: When the mind is impartial towards all living beings, one can accomplish full and perfect great compassion. By using the heart of great compassion to accord with living beings, one perfects the making of offerings to the Thus Come Ones. In this way the Bodhisattva constantly accord with living beings. Even when the realm of empty space is exhausted, the realms of living beings are exhausted, the karma of living beings is exhausted, and the afflictions of living beings are exhausted, I will still accord endlessly, continuously in thought after thought without cease. My body, mout, and mind never weary of these deeds. 

     Lại nầy thiện nam tử! Nói “Hồi hướng khắp tất cả” là như vầy: Từ sự lễ kính ban đầu nhẫn đến tùy thuận có bao nhiêu công đức, thảy đều đem hồi hướng cho tất cả chúng sanh khắp trong hư không pháp giới. Nguyện cho tất cả chúng sanh thường được an lạc, không các bịnh khổ, muốn thực hành pháp ác thảy đều không thành, còn tu nghiệp lành thì đều mau thành tựu. Đóng chặt cửa của tất cả ác thú, mở bày đường chánh nhơn, thiên, niết bàn. Nếu các chúng sanh nhơn vì đời trước chứa nhóm các nghiệp ác nên chiêu cảm tất cả quả rất khổ, tôi đều chịu thế cho, khiến chúng sanh đều được giải thoát, rốt ráo thành tựu quả vô thượng bồ đề. Bồ tát tu hạnh hồi hướng như  vậy.

     Moreover, good man, to “Universally transfer all merit and virtue” is explained like this: All of the merit and virtue, from the first vow, to worship and respect, up to and including the vow to constantly accord, I universally transfer to all living beings throughout the dharma realm and to the limits of empty space. I vow that all living beings will be constantly peaceful and happy without sickness or suffering. I vow that no one will succeed in doing any evil, but that all will quickly perfect their cultivation of good karma. I vow to close the doors to the evil destinies and open the right paths of humans, gods, anf nirvana. I will stand in for beings and receive all the extremely severe fruits of suffering which they bring on with their evil karma. I will liberate all these beings and ultimately bring them to accomplish unsurpassed Bodhi. The Bodhisattva cultivates transference in this way. 

     Cõi hư không  cùng tận, cõi chúng sanh cùng tận, nghiệp chúng sanh cùng tận, phiền não chúng sanh cùng tận, sự hồi hướng của tôi đây vẫn không cùng tận, niệm niệm nối luôn không hở, ba nghiệp thân khẩu ý không hề nhàm mỏi.

     Even when the realm of empty space is exhausted, the realms of living beings are exhausted, the karma of living beings is xhausted, and the afflictions of living beings are exhausted, I will still transfer all merit and virtue endlessly, continuously in thought after thought without cease. My body, mouth and mind never weary of these deeds.

     Nầy thiện nam tử! Ấy là mười điều nguyện lớn đầy đủ viên mãn của đại Bồ Tát. Nếu các vị Bồ Tát ở nơi mười điều nguyện lớn nầy mà tùy thuận tu hành, thì có thể thuần thục tất cả chúng sanh, thì có thể tùy thuận đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác, thì có thể trọn đủ các hạnh nguyện hải của Ngài Phổ Hiền Bồ Tát. Nầy thiện nam tử! Do cớ ấy ở nơi các nghĩa trên đây ông nên hiểu biết như vậy. 

     Good man, these are the Bodhisattva Mahasatva’s ten great vows in their entirety. If all Bodhisattva can folow and enter these great vows, then they will be able to bring all living beings to maturity. They will be able to accord with Anuttara SamyakSambodhi and complete Universal Worthy'’ sea of conduct and vows. Therefore, good man, you should know the meaning of this. 

     Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhơn dùng bảy món báu thượng diệu và đồ an lạc tối thắng của nhơn thiên, rất nhiều đến nỗi dẫy đầy tất cả thế giới như số cực vi trong vô lượng vô biên bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật khắp mười phương, đem bố thí cả cho bao nhiêu chúng sanh trong ngần ấy thế giới, cúng dường cho cả các đức Phật cùng Bồ Tát trong ngần ấy thế giới, trải qua vô số kiếp như số cực vi trong ngần ấy cõi Phật nối luôn không dứt, cúng dường bố thí như vậy được bao nhiêu công đức, đem sánh với công đức của người một phen nghe mười điều nguyện vương nầy, thì công đức trước không bằng một phần trăm, không bằng một phần ngàn,  nhẫn đến cũng không bằng một phần ưu-ba-ni-sa-đà của công đức nghe kinh nầy.

     If a good man or good woman filled up worlds as many as very fine dust motes in measureless , boundless, ineffably ineffable Buddha lands throughout the ten directions with the supremely wonderful seven jewels; and if they as well gave all of the supreme peace anf happiness known to gods and men to every living being in all those worlds; and if they offered such gifts to all the Buddhas and Bodhisattvas of these worlds, doing so constantly without cease for as many kalpas as very fine motes of dust in those Buddha lands, they would acquire much merit and virtue. But the merit and virtue gained from these gifts, when compared to the merit and virtue of a person who hears these kings of vows pass by his ear but once, does not equal one part in one hundred, one part in one thousand, or even one part in an upanishad.

     Hoặc có người dùng lòng tin sâu chắc ở nơi mười điều nguyện rộng lớn nầy thọ trì đọc tụng, cho đến iên chép một bài kệ bốn câu, thì sớm có thể dứt trừ được năm nghiệp vô gián, cả thảy thân bịnh, tâm bịnh, khổ não trong thế gian, cho đến tất cả các ác nghiệp nhiều như số cực vi trong cõi Phật đều được tiêu trừ.  Tất cả các quân ma, quỷ dạ xoa, quỷ la sát, , hoặc quỷ cưu bàn trà, tỳ xá xà, bộ đa…các quỷ thần hung ác uống máu ăn thịt thảy đều lánh xa. Hoặc nếu có gần gũi thì là hạng phát tâm theo hộ trì.

     Moreover, if a person receives and maintains these great vows with a mind of deep faith, read and recites them, or writes out just a single four-line verse, he or she can quickly eradicate the karma of the five unintermittent offenses. All of the world’s illnesses that afflict the body and mind, as well as the various kinds of bitter suffering, will be wiped away, up to and including bad karma equal to the fine motes of dust in Buddha lands. All the demons-Armies, the Yakshas, Rakshas, Kumbhandas, Bhutas, and so forth, and all evil ghosts and spirits that drink blood and devour flesh will go far away from this person. Or they will resolve, before long, to draw near and protect him.

     Vì thế nên nếu người trì tụng nguyện kinh nầy, thì đi trong thế gian không bị chướng ngại, như mặt trăng giữa lừng ra khỏi mây mù, các đức Phật Bồ Tát đều khen ngợi, tất cả hàng nhơn thiên đều nên lễ kính, tất cả chúng sanh đều nên cúng dường. Người thiện nam tử nầy trọn được thân người, đầy đủ bao nhiêu công đức của Ngài Phổ Hiền, chẳng bao lâu sẽ như Phổ Hiền Bồ tát mau được thành tựu sắc thân vi diệu, đủ ba mươi hai tướng đại trượng phu; nếu sanh ở cõi người hay cõi trời thì thường ở dòng cao quý, trọn có thể phá hoại tất cả đường ác, trọn có thể xa lìa tất cả bạn dữ, trọn có thể chế phục tất cả ngoại đạo, trọn có thể giải thoát tất cả phiền não, như sư tử vương dẹp phục bầy thú. Kham lãnh thọ sự cúng dường của tất cả chúng sanh. 

     Therefore, if he recite these vows aloud, he will move freely through the world without obstruction, like the moon appearing through the clouds. All the Buddhas and Bodhisattvas will praise him, people and gods should all bow in respect to him, and all living beings should make offerings to him. This good man will easily get reborn as a uman and will perfect all of Universal Worthy’s merit and virtue. Before long, he will be just like Universal Worthy himself, obtaining a subtle and wonderful physical body complete with the thirty-two marks of the Great Man. If he is born among humans or gods, he will always live in a superior family. He will totally destroy the evil destinies and will leave all bad companions. Fully able to vanquish all externalists, he will completely free himself from all afflictions, just as the Lordly Lion subdues all beasts. This person will be worthy of receiving the offerings of all living beings.  

   Lại người nầy lúc lâm chung, phút cuối cùng, tất cả căn thân đều hư hoại, tất cả thân thuộc đều phải bỏ lìa, tất cả oai thế đều thối thất, cho đến các quan phụ tướng đại thần, cung thành trong ngoài, voi ngựa xe cộ, trân bảo kho đụn…tất cả đều không đem một món nào theo được. Chỉ có mười nguyện vương nầy chẳng rời người mà thôi. Trong tất cả thời gian nó thường ở trước dẫn đường, trong khoảnh khắc liền được sanh về cõi Cực Lạc. Đến Cực Lạc rồi liền thấy đức A Di Đà Phật cùng các Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Quán Tự Tại Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát… Các vị Bồ Tát nầy sắc tướng đoan nghiêm, công đức đầy đủ chung cùng vây quanh.

     Further, when a person is on the verge of death, at the last instant of life, when all his faculties  scatter and he departs from his relatives, when all power and status are lost and nothing survives, when his prime minister, great officials, his inner court and outer cities, his elephants, horses, carts, and treasuries of precious jewels can no longer accompany him, these kings of vows alone will stay with him. At all times they will guide him forward, and in a single instant he will be reborn in the Land of Ultimate Bliss. Arriving there, he will see Amitabha Buddha, Manjusri Bodhisattva, Universally Worthy Bodhisattva, the Bodhisattva who contemplates at Ease, Maitreya Bodhisattva, and others. The appearance of these Bodhisattvas will be upright and adorned, and their merit and virtue complete. Together they will circumambulate him.

     Lúc bấy giờ người ấy tự thấy mình gá sanh nơi hoa sen báu, được đức Phật xoa đầu thọ ký. Sau khi được thọ ký rồi, trải qua vô số trăm ngàn muôn ức na-do-tha kiếp, khắp cả mười phương bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới, dùng sức trí huệ tùy theo tâm của chúng sanh mà làm lợi ích.

     This person will see himself born from a lotus flower and wil receive a prediction from the Buddha. In this way he will pass through numberless hundreds of thousands of tens of thousands of millions of nayutas of kalpas, and with the minds of living beings in order to benefit them everywhere throughout the ineffably ineffable worlds in the ten directions.

Chẳng bao lâu sẽ ngồi nơi Bồ Đề đạo tràng hàng phục quân ma, thành bực đẳng chánh giác giảng nói pháp mầu vi diệu. Có thể làm cho chúng sanh trong những cõi Phật như số cực vi trần đều phát tâm Bồ Đề, tùy theo căn tánh của chúng sanh mà dạy dỗ cho thành thục, nhẫn đến cùng tận kiếp hải, có thể làm lợi ích tất cả chúng sanh một cách rộng lớn.

     Before long he will sit in a Bodhimanda, subdue the demonic armies, accomplish equal and proper enlightenment, and turn the wonderful dharma wheel. He will cause living beings in worlds as many as the fine motes of dust in Buddha lands to bring forth the Bodhi mind. According with their basic natures, he will teach, transform, and bring them to maturity. To the exhaustion of the seas of future kalpas, he will greatly benefit all living beings. 

     Nầy thiện nam tử! Các chúng sanh kia hoặc nghe, hoặc tin nơi nguyện vương rộng lớn nầy, rồi thọ trì đọc tụng và giảng nói cho người nghe. Công đức của chúng sanh kia chỉ có đức Phật Thế Tôn biết, ngoài ra không ai hiểu thấu. Vì thế nên những người được nghe mười điều nguyện vương nầy chớ sanh lòng nghi ngờ, nên phải lãnh thọ, thọ rồi nên đọc, đọc rồi có thể tụng thuộc, tụng thuộc rồi nên gìn nhớ luôn, cho đến biên chép vì người mà giảng nói. Những người như vậy, trong một niệm tất cả hạnh nguyện đều được thành tựu, được phước vô lượng vô biên.

     Good man, the merit and virtue obtained by living beings through hearing and believing in these great kings of vows, through receiving, maintaining, reading and reciting them, and through extensively explaining them for others, can be known only by the Buddha, the World Honored One, and by no one else. Therefore, you who hear these kings of vows should harbor no doubts. Reverently accept them; after accepting them, you should be able to read them; after you can read them, you should be able to recite them aloud; and after you can recite them aloud, you should be able to maintain them, to the extent that you can write them out and extensively explain them for others. Then in a single thought, one conduct and vows will be accomplish. The blessings one will obtain are measureless and boundless.

     Có thể ở trong biển khổ phiền não cứu vớt chúng sanh được giải thoát, đều được vãng sanh về thế giới Cực Lạc của đức Phật A Di Đà.   

     One will be able to rescue living beings from the great sea of afflictions and suffering, causing them to make good their escape and to be reborn in Amitabha Buddha’s land of Ultimate Bliss.

     Lúc bấy giờ Phổ Hiền Bồ Tát ma ha tát muốn nói lại nghĩa ấy, ngài quan sát khắp mười phương mà nói kệ rằng:

     At that time, Universally Worthy Bodhisattva, Mahasattva, wishing to restate his meaning, contemplated everywhere in the ten directions and spoke verses:

    Tất cả chư Phật trong ba đời

    Before the Lions among men in the past, in 

    the present, and also in the future

    Ở nơi thế giới khắp mười phương

    Throughout the worlds of the ten

    directions,

    Tôi đem thân ngữ ý trong sạch

    With body, mouth and mind entirely pure

    Khắp lạy chư Phật không hề sót

    I bow before them all, omitting none.

    Sức oai thần hạnh nguyện Phổ Hiền

    With the awesome spiritual power of

    Samantabhadra’s vows

    Phân thân hiện khắp trước Như Lai

    I appear at the same time before every 

    Thus Come One

    Một thân lại hiện sát trần thân

    And in transformed bodies as many as

    motes of dust in lands

    Mỗi thân lạy khắp sát trần Phật.

    Bow to Buddhas as many as motes of 

    dust in lands

    Sát trần Phật ở trong một trần

    In every mote of dust are Buddhas as

    many as motes of dust 

    Đều ngồi giữa chúng hội Bồ tát

    Each dwelling amid a host of Bodhisattvas

    Vô tận pháp giới cũng như vậy

    Throughout motes of dust in endless

    Dharma realms it is the same

    Sâu tin chư Phật đều đầy đủ.

    I deeply believe they all are filled with 

    Buddhas.

    Tôi đều dùng tất cả âm thinh

    With seas of each and every sound I

    everywhere let fall

    Khắp thổ vô tận lời nói hay

   Words and phrases, wonderful and    

    endless

    Tột tất cả kiếp thuở vị lai

    Which now and through the kalpas of the 

    future

    Khen công đức sâu dầy của Phật.

    Praise the wide, deep sea of Buddhas’

    merit and virtue.

    Sắm đồ rất đẹp: nào tràng hoa

    Flower garlands supreme and wonderful

    Kỹ nhạc, hương, hoa cùng tàn lọng

    Music, perfumes, parasols, and canopies

    Các thứ trang nghiêm đẹp như vậy

    And other decorations rich and rare

    Tôi dùng cúng dường chư Như Lai.

    I offer up to every Thus Come One.

    Nào là y phục, các thứ hương:

    Fine clothing, superior incense

  Phấn hương, hương xông cùng đèn đuốc.

  Powdered and burning incense, lamps

  and candies

    Mỗi món đều như núi Tu Di

    Each one heaped as high as Mount Sumeru

    Tôi đem cúng dường các đức Phật

    I offer completely to all tathagatas.

    Do nơi tâm thắng giải rộng lớn

    With a vast, great, supremely liberated

    mind

    Sâu tin tất cả Phật ba đời

    I believe in all the Buddhas of the three

    periods of time

    Sức oai thần hạnh nguyện Phổ Hiền

    With the strength of Samantabhadra’s

    Conduct and Vows

    Khắp đem cúng dường các đức Phật.

    I make offerings to all Thus Come

    Ones everywhere

    Từ xưa đã tạo nhiều nghiệp ác

    For all the evil deeds I have done in

    the past

    Đều vì ba độc: tham, sân, si

    From beginningless greed, anger and

    delusion

    Từ thân, khẩu, ý mà gây nên

    Created by my body, mouth and mind

    Tất cả nay tôi đều sám hối.

    I now know shame and repent of them all

    Vô lượng công đức của chư Phật

    I rejoice in the merit and virtue

    Của Bồ tát, Thanh Văn, Duyên Giác

    From Bodhisattvas, Hearers, Pratyeka-

    Buddhas

    Hữu học, vô học cùng chúng sanh

    The learners, those without study as well

    as 

    other beings in the ten directions

    Tất cả nay tôi đều tùy hỷ.

    I rejoice in the merit and virtue

    Các đấng soi đời khắp mười phương

    Before the lamps of the worlds of the

    ten directions

    Vừa mới chứng nên đạo chánh giác

    Those who first accomplish Bodhi

    Tất cả nay tôi đều khuyến thỉnh

    I now request and beseech them all

    Chuyển xe chánh pháp diệu vô thượng.

    To turn the foremost, wondrous dharma

    wheel

    Chư Phật nếu muốn nhập Niết bàn

    If there are Buddhas who wish for Nirvana.

    Tôi xin thành tâm đều mời thỉnh

    I request with deep sincerity

    Cúi mong ở lại lâu trong đời

    That they dwell in the world for a long

    time

    Cho chúng sanh được nhờ lợi lạc.

    To bring benefit and bliss to every beings

    Bao nhiêu phước đức bởi cúng dường,

    I worship those with blessings, praise    

    them and make offerings

    Ngợi khen, thỉnh pháp, mời trụ thế,

    I request that the Buddhas remain in the

    world and turn the Dharma wheel

    Tùy hỷ sám hối các căn lành,

    The good roots gained from following

    and rejoicing in the merit and virtue,

    and from repentance and reform

    Hồi hướng chúng sanh cùng Phật đạo.

    I transfer to living beings and the Buddha

    way

    Tôi nay theo học với Như Lai

    I study with the Buddhas and practice

    Tu tập viên mãn hạnh Phổ Hiền

    The perfect conduct of Universal Worthy

    Cúng dường chư Phật về quá khứ

    I make offerings to all the Thus Come

    Ones of the past

    Cùng với mười phương hiện tại Phật.

    And to all present Buddhas throughout

    the ten directions

    Vị lai tất cả Thiên nhân sư

    All future teachers of gods and men

    Hết thảy tâm nguyện đều viên mãn

   Whose aspirations to joy have been   

    completed

    Nguyện theo học khắp ba đời Phật

    I’ll follow in study throughout the three

    Periods of time

    Mau chứng nên quả đại Bồ Đề.

    And quickly attain Great Bodhi

    Cả thảy cõi cùng khắp mười phương

    In all lands of the ten directions

    Rộng lớn thanh tịnh trang nghiêm đẹp

    Vast, great, pure, and wonderfully adorned

    Chúng hội vây quanh các Như Lai

    All Tathagatas sit beneath royal Bodhi

     trees

    Đều ở dưới cội Bồ Đề thọ.

    While assemblies circumambulate them

    Bao nhiêu chúng sanh trong mười phương

    I vow that every being in all directions

    Nguyện lìa lo khổ thường an lạc

    Will be peaceful, happy, and without worry

    Đều được lợi ích chánh pháp mầu

    May they obtain the proper Dharma’s

    profound aid

    Dứt hết phiền não không còn thừa.

    And may all their afflictions be wiped

    away without exception

    Khi tôi vì Bồ Đề mà tu

    When I cultivate towards Bodhi

    Trong các loài đều biết túc mạng

    I will gain the knowledge of past lives

    In all destinies

    Thường được xuất gia tu tịnh giới

    I will always leave the home-life and

    cultivate pure precepts

    Không nhơ không lỗi cũng không hư.

    Without outflows, never broken, and

    without stain

    Trời, rồng, dạ xoa, bàn trà quỷ

    Be they gods, dragons, yakshas, or

    Kumbhandas

    Nhẫn đến loài người cùng phi nhơn

    Up to humas, non-humans, and the rest

    Tất cả ngôn ngữ của chúng sanh

    In the many languages of all such

    living beings

    Đều dùng các tiếng tăm nói Pháp.

    With every sound I will speak the Dharma

    Siêng tu Ba La Mật trong sạch

    I will cultivate the pure paramitas with

    vigor

    Tâm Bồ Đề hằng gìn không mất

    And never leave the Bodhi mind behind

    Dứt trừ chướng nhơ không để thừa

    I will banish all obstructions and

    defilements

    Tất cả hạnh mầu đều thành tựu.

    And fulfill all the wondrous practices

    Ở nơi các hoặc, nghiệp, cảnh ma

    From all delusions, karma, and demon-

    states

    Trong vòng thế gian được giải thoát

    Amid all worldly paths, I will be freed

    Cũng như hoa sen không dính nước

    As the lotus does not touch the water

Nào khác Nhật, Nguyệt chẳng dừng không.

    As sun and moon do not stop in space

    Dứt hết tất cả khổ ác đạo

    Ending suffering of the paths of evil

    Khắp đồng ban vui cho quần chúng

    And to everyone equally bringing joy

    Như thế trải qua vô số kiếp

    May I for aeons like the motes of dust in

    lands

    Lợi ích mười phương không cùng tận.

    Ever benefit all in the ten directions

    Tôi thường tùy thuận các chúng sanh

    Always in accord with living beings

    Cùng tận tất cả vị lai kiếp         

    Cultivating through all future aeons

    Hằng tu hạnh lớn của Phổ Hiền

    The vast conduct of Universal Worthy

    Viên mãn quả Bồ Đề vô thượng.

    The unsurpassed Great Bodhi will I perfect

    Những người cùng tôi đồng một hạnh

    May all who cultivate with me

    Cầu tất cả chỗ chung nhóm họp

    Assemble together with me in one place

    Thân khẩu ý nghiệp đều đồng nhau

   Our karmas of body, mouth, and mind

    the same

    Hết thảy hạnh nguyện cùng tu học.

   As we cultivate and study all practices

    and vows

    Các thiện tri thức lợi ích tôi

    With all advisors good and wise who aid

    me

    Vì tôi chỉ bày hạnh Phổ Hiền

    By explaining Samantabhadra’s deeds

    Nguyện cùng tôi thường chung hội họp

     I vow to always congregate together  

    Đối với tôi lòng luôn hoan hỷ.

    May they never be displeased with me

    Nguyện thường diện kiến các Như Lai

    I vow to always meet Thus Come Ones

    face to face

    Và hàng Phật tử vây quanh Phật

    And the hosts of disciples that circulate

    around them            

    Tôi đều sửa sang cúng dường lớn

    I’ll raise offerings which are vast and great

    Tột thuở vị lai không nhàm mỏi.

    Untiring to the end of future aeons

    Nguyện gìn pháp mầu của Như Lai

    I will hold on high the subtly wondrous

    Buddhadharma

    Rõ bày cả thảy hạnh Bồ Đề

    And illuminate the prctices of Bodhi

    Rốt ráo thanh tịnh hạnh Phổ Hiền

    I will ultimately pure in Samantabhadra’s

    way

    Trọn kiếp vị lai thường tu tập.

    Practicing until the end of time

    Tôi ở trong tất cả các cõi

    I cultivate throughout all existence

    Tu phước vô tận, trí vô tận

    Inexhaustible blessings and wisdom

    Định, huệ, phương tiện và giải thoát

    By concentration, wisdom, skillful

    means, and liberation

    Được những tạng vô tận công đức.

    I will gain an endless store of merit and        

    virtue

    Trong một trần có trần số cõi

    In one mote of dust are lands as

    numerous as motes of dust

    Mỗi mỗi cõi có nan tư Phật

    In each land are incalculable numbers

    of  Buddhas

    Mỗi mỗi Phật ở giữa chúng hội

    In every place where Buddhas dwell I

    see  the host assembled

    Tôi thấy hằng giảng hạnh Bồ Đề.

    Endlessly proclaiming all the practices

    of  Bodhi

    Khắp hết mười phương các cõi nước

    In ten directions everywhere, throughout

    the sea of lands  

    Mỗi đầu lông đủ có ba đời

    On the tip of every hair in oceans of all

    time

    Phật cùng quốc độ vô số lượng

    So too there is a sea of Buddhas, a sea

    of Buddha lands

    Tôi khắp tu hành trải trần kiếp.

    Pervading them all I cultivate for seas

    of endless time

    Lời của Như Lai đều thanh tịnh

    The speech of all Tathagatas is pure

    Một lời đủ cả các âm thinh

    Each word contains an ocean of all sounds

    Theo tiếng chúng sanh lòng ưa thích

    According with what beings like to hear

    Biện tài của Phật đều ban khắp.

    The Buddhas’ sea of eloquence flows forth

    Tất cả chư Phật trong ba đời

    Al Tathagatas of the three periods of  time

    Dùng những ngữ ngôn vô tận kia

    Using the inexhaustible seas of words

    and languages

    Hằng chuyển pháp mầu rất lý thú

    Forever turn the wonderful Dharma

    Wheel of noumenon and phenomena

    Nhờ trí sâu tôi đều lãnh thọ.

    I enter everywhere with the power of 

    deep wisdom  

    Tôi hay thâm nhập đời vị lai

    I can penetrate the futue

    Tất cả kiếp thâu làm một niệm

    And exhaust all kalpas in a single thought

    Hết thảy những kiếp trong ba đời

    All kalpas of the three periods of time

    Làm khoảng một niệm tôi đều nhập.

    In a single thought I completely enter

    Trong một niệm tôi thấy ba đời

    Tất cả các đấng Nhơn Sư Tử

    In one thought I see all Lions of men

    Cũng thường vào trong cảnh giới Phật

    I constantly fathom the Buddha states

    of the past, present and future

    Như huyễn, giải thoát và oai lực.

    Their magical liberations and their

    awesome strength

    Trong các cực vi đầu sợi lông

    On the tip of an extremely fine hair

    Xuất hiện cõi trang nghiêm ba thuở

    Appear jewelled lands of eternal time

    Mười phương trần sát các đầu lông

    Lands on hair tips as many as dust

    mote like lands of the ten directions

    Tôi đều thâm nhập để nghiêm tịnh.

    I deeply enter, adorn, and purify

    Vị lai các đấng Chiếu Thế Đăng

    All lamps of the future that light the world

    Thành đạo chuyển pháp độ chúng sanh

    Complete the way, turn the Dharma

    Wheel, and awaken living beings

    Phật sự xong xuôi hiện nhập diệt

    As they perfect the Buddha’s work and

    manifest Nirvana

    Tôi đều đến gần để hầu hạ.

    I visit and draw near to each one and

    obtain

    Sức thần thông rộng khắp chóng mau

   The spiritual power to rapidly go

    everywhere

    Sức Phổ Môn khắp nhập đại thừa

    The power to universally enter the

    Mahayana through the Universal Door

    Sức trí hạnh khắp tu công đức

    The power of wisdom and conduct to 

    universally cultivate merit and virtue

    Sức oai thần từ bi khắp che

    The subtle spiritual power to shield all

    with great kindness

  Sức phước trang nghiêm khắp thanh tịnh

   The power to everywhere purify and

    adorn supreme blessings         

    Sức trí huệ không trước không trệ

    The power of wisdom which is unattached

    and and independent

    Sức định, huệ, phương tiện, oai thần

    The awesome spiritual power and the

    powers of concentration, wisdom, and

    skill-in-means 

    Sức khắp hay chứa đạo Bồ Đề.

    The power of universally accumulating 

    bodhi

    Sức thanh tịnh tất cả nghiệp lành

   The power of good karma which purifies

    all things

    Sức xô dẹp tất cả phiền não

    The power to eradicate all afflictions

    Sức hàng phục tất cả loài ma

    The power to subdue all demons

    Sức viên mãn các hạnh Phổ Hiền.

    The power to perfect Universal Worthy’s 

    conduct

    Khắp hay nghiêm tịnh các cõi nước

    The sea of lands I everywhere adorn and 

    purify

    Giải thoát cho hết thảy chúng sanh

    And I liberate the sea of all living beings

    Khéo hay phân biệt các pháp mầu

    With skill I make distinctions in the

    Sea of all dharmas

    Có thể sâu vào biển trí huệ.

    And enter deeply into the wisdom sea

    Khắp tu thanh tịnh các công hạnh

    I can purify the ocean of all practices

    Các chí nguyện thảy đều viên mãn

    Perfect and Complete a sea of vows

    Gần gũi cúng dường các đức Phật

    I draw near to a sea of Buddhas and

    make offerings

    Tu hành vô lượng kiếp không mỏi.

   And cultivate without fatigue for a sea of

    time

    Tất cả Như Lai trong ba đời

   To all Tathagatas of the three periods of

   time

    Những hạnh nguyện Bồ Đề tối thắng

   With Bodhi, conduct, and vows most

    supreme

    Tôi đều cúng dường tu tập đủ

    I completely offer up my perfect

    cultivation

    Dùng hạnh Phổ Hiền ngộ Bồ Đề.

    With Samantabhadra’s practices, I awaken

    to Bodhi

    Tất cả Như Lai có trưởng tử

    All tathagatas have elder disciples

    Danh hiệu ngài là đức Phổ Hiền

    Named Universally Worthy, honored one

    Tôi nay hồi hướng các căn lành

    Now I transfer all good roots

    Nguyện các trí hạnh đều đồng đó.

    And I vow to perform deeds of wisdom

    identical to his

    Nguyện thân khẩu ý hằng thanh tịnh

    I vow that my body, mouth, and mind

    will be forever pure

    Công hạnh cõi nước cũng sạch trong

    And that all practices and Buddha lands

     Will be also

    Trí huệ ấy gọi rằng Phổ Hiền

    To the wisdom of Universal Worthy

    Nguyện tôi cùng ngài đều đồng đẳng.

    I vow in every way to be identical

    Vì khắp thanh tịnh hạnh Phổ Hiền

    I will wholly purify Samantabhadra’s

    conduct

    Các nguyện lớn của Văn Thù Sư Lợi

    And the great vows of Manjusri as well

    Trọn sự nghiệp kia không thừa sót

   All their deeds I will fulfill, leaving nothing 

    undone

    Đến kiếp vị lai hằng không mỏi.

    Till the end of the future I will never tire

    Tôi tu các hạnh đều vô lượng

    Infinite and measureless is my cultivation

    Được các công đức cũng không lường

    Boundless merit and virtue I obtain

    An trụ trong những hạnh vô lượng

   Amid limitless practices I will dwell in

    peace

    Suốt thấu tất cả sức thần thông.

   And penetrate the strength of spiritual

    powers

    Sức trí mạnh mẽ các Văn Thù

    Manjusri has wisdom, courageous and

    brave

    Huệ hạnh Phổ Hiền cũng dường ấy

    Samantabhadra’s conduct and wisdom

    are the same

    Tôi nay hồi hướng các căn lành

    I now transfer all good roots

    Thường theo các ngài mà tu học.

    In order to follow them in practice and in

    study

    Chư Phật ba đời luôn khen ngợi

    In the three periods of time, all Buddhas

    praise

    Những nguyện rộng lớn khó sánh bằng

    Such vows as these, lofty and great

    Tôi nay hồi hướng các căn lành

    I now transfer all good roots

    Để được Phổ Hiền hạnh thù thắng.

    Wishing to perfect the supreme practices

    of Samantabhadra

    Nguyện tôi lúc mạng sắp lâm chung

    I vow that when my life approaches its end

    Trừ hết tất cả các chướng ngại

    All obstructions will be swept away

    Tận mặt gặp Phật A Di Đà

    I will see Amitabha Buddha

    Liền được vãng sanh cõi Cực Lạc.

    And be born in his land of Ultimate Bliss

    and peace

    Tôi đã vãng sanh cõi kia rồi

    When reborn in the Western land

    Hiện tiền thành tựu nguyện lớn nầy

    I will perfect and completely fulfill

    Cả thảy tròn đủ không thừa thiếu

    Without exception these great vows

    Lợi lạc tất cả các chúng sanh.

    To delight and benefit all beings

    Chúng hội Di Đà đều thanh tịnh

    The assembly of Amitabha Buddha is

    completely pure

    Tôi từ hoa sen nở sanh ra

    When from a matchless lotus I am born

    Thân thấy đức Phật Vô Lượng Quang

    I’ll behold the Tathagata’s

    Measureless Light as he appears before

    me

    Liền thọ ký tôi đạo Bồ đề.

    To bestow a prediction of Bodhi

    Nhờ đức Phật kia thọ ký rồi

    Receiving a prediction from the Thus

    Come One

    Tôi hóa vô số vạn ức thân

    I’ll transform countless kotis of bodies

    Trí huệ rộng lớn khắp mười phương

    And with wisdom power vast and great

    pervade ten directions

    Khắp lợi tất cả chúng sanh giới.

    To benefit the realms of living beings

    Nhẫn đến hư không thế giới tận

    Realms of worlds and empty space might

    reach an end

    Chúng sanh, nghiệp, và phiền não tận

   And beings, karma, and afflictions be

    extinguished

    Nhưng bốn pháp ấy không cùng tận

    But they never be exhausted

    Nguyện tôi rốt ráo hằng vô tận.

    Neither will any of my vows

    Cõi nước vô biên khắp mười phương

    With myriads of jewels in boundless

    lands in all directions

   Trang nghiêm các báu cúng dường Phật

    I make decorations and offerings to the

    Thus Come Ones

    Sắm đồ an lạc thí trời người

    I bring the foremost peace and joy and 

    humans

    Trải kiếp vi trần luôn cúng thí.

    For aeons as many as the motes of dust

    In lands, I always offer

    Nếu có người nơi nguyện vương nầy

    Yet, if one believes in these Kings of

    Vows supreme

    Một phen nghe liền sanh tín kính

    As they pass by the ear but a single time

    Mong cầu khát ngưỡng quả Bồ đề

    And if in search of Bodhi one thirstily

    Được công đức nhiều hơn tài thí.

    The merit and virtue gained will that

    surpass

    Nhờ đây thường xa các bạn ác

    With bad advisors forever left behind

    Thoát khỏi tất cả ba đường dữ

    From paths of evil, one departs forever

    Mau thấy đức Phật Vô Lượng Quang

    Soon to see the Buddha of Limitless Light

    Đầy đủ nguyện Phổ Hiền tối thắng.

    And perfect Samantabhadra’s vows

    Người nầy thọ mạng được lâu dài

    Easily obtaining the blessings of long life

    Trong loài người ở bực tôn quý

   Assured of a noble rebirth in the human

    realm

    Người nầy không lâu sẽ trọn nên

    Before long he’ll perfect and complete

    Công hạnh như Phổ Hiền Bồ Tát.

    The practices of Universal Worthy

    Ngày trước do vì không trí huệ

    In the past, owing to a lack of wisdom

    power

    Tạo ra năm nghiệp vô gián ác

    The five unintermittent offenses of

    extreme evil I have done

    Chuyên tụng nguyện vương Phổ Hiền nầy

    By reciting the great Kings of Vows of

    Universal Worthy

    Tất cả tội ác mau tiêu diệt.

    In one thought can all be wiped away

    Sanh ra dòng họ cùng dung sắc

    His clan, race, and color,

    Tướng tốt, trí huệ đều đầy đủ

    Marks and characteristics, with his

    wisdom are all perfected and completed

    Các ma, ngoại đạo không phá được

    Demons and externalists will have no

    way to harm him

    Kham làm phước điền cho ba cõi.

    And he’s worthy to receive the

    offerings of the three realms

    Mau đến cội Bồ đề thọ vương

    To the regal Bodhi tree he will quickly go

    Ngồi an hàng phục các chúng ma

    And seated there subdue hordes of 

    demons

    Thành đạo chánh giác nói pháp mầu

    Right and equally enlightened, he’ll

    Turn the Dharma wheel

    Khắp lợi tất cả các hàm thức.

    To benefit the host of living beings

    Nếu người ở nơi mười nguyện nầy

    If one holds on high Samantabhadra’s

    Vows and proclaims them by

    Đọc, tụng, thọ trì và diễn nói

    Reading, reciting, receiving and preaching

    Quả báo chỉ Phật mới biết được

    One’s reward only the Buddhas will know

    Quyết định sẽ được đạo Bồ đề.

    And one will obtain Bodhi’s highest path

    Nếu người tụng nguyện Phổ Hiền nầy

    If one recites Universal Worth’s Vows

    Tôi nói chút ít phần căn lành:

    I will speak of a portion of his good roots

    Trong một niệm thảy đều viên mãn

    In a single thought he can perfect

  Thành tựu chúng sanh nguyện thanh tịnh

    The pure vows of sentient beings

    Hạnh Phổ Hiền, thù thắng của tôi

    The supreme and endless blessings

    from Samantabhadra’s conduct

    Phước lớn vô biên đều hồi hướng

    I now universally transfer

 Khắp nguyện chúng sanh đang chìm đắm

   May every living beings, drowning and

   adrift   

    Mau sanh cõi Phật Vô Lượng Quang

    Soon return to the land of Limitless Light!

     Lúc Ngài Phổ Hiền đại Bồ tát ở trước đức Như Lai nói bài kệ hạnh nguyện thanh tịnh rộng lớn rồi, Thiện Tài đồng tử vui mừng vô lượng, các Bồ Tát cũng đều hoan hỷ, đức Như Lai khen rằng: “Lành thay! Lành thay!”

     When Universal Worthy Bodhisattva Mahasattva finished speaking before the Thus Come One these pure verses on the Great Kings of Vows of Universal Worthy, the youth Good Wealth was overwhelmed  with boundless joy. All the Bodhisattvas were extremely happy as well, and the Thus Come One praised him, saying, “Good indeed, good indeed!”

     Bấy giờ, lúc đức Thế Tôn cùng hàng Thánh chúng đại Bồ tát diễn nói Pháp môn thù thắng cảnh giới giải thoát bất khả tư nghì như vậy, ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát làm bậc thượng thủ trong các vị đại Bồ Tát và sáu ngàn thầy tỳ kheo của ngài giáo hóa.

     At that time, when the World Honored One and the wise assembly of Bodhisattva-Mahasattvas had proclaimed this Supreme Dharma Door to the Inconceivalbe State of Liberation, the Bodhisattva Manjusri was the leader of the great Bodhisattvas and the six thousand monks he had taught and brought to maturity.

     Đức Di Lặc Bồ Tát làm bực thượng thủ trong các vị đại Bồ tát ở Hiền Kiếp.

The Bodhisattva Maitreya was the leader among the great  Bodhisattvas of this Worthy Era.

     Đức Vô Cấu Phổ Hiền Bồ tát đứng đầu các bậc nhất sanh trụ quán đảnh vị Bồ tát, cùng với các vị đại Bồ Tát đông như số vi trần trong các thế giới ở mười phương khắp đồng đến nhóm hội.

     The immaculate Bodhisattva Universal Worthy was the leader of the great Bodhisattvas who in one lifetime would achieve Biddhahood and receive anointment. This Bodhisattva also led the Bodhiattva-Mahasattvas, numerous as the motes of dust in all the worlds of the ten directions, who had gathered at the assembly.

Trong hàng đại Thinh Văn thì có ngài đại trí Xá Lợi Phất, ngài đại Mục Kiền Liên… làm thượng thủ . Cùng những hàng Trời, Người, các bậc chúa tể trong đời, bát bộ: Thiên long, dã xoa, càn thát bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-dà, nhơn, phi nhơn… tất cả đại chúng nghe Phật thuyết pháp đều rất vui mừng, đồng tín thọ phụng hành.       

The great, wise Sariputra, Mahaudgalyayana and others headed the ranks of the great Sound Hearers. All the people, gods, and lords of all the worlds, as well as dragons, yakshas, gandharvas, asuras, garudas, kinnadras, mahoragas, humans, non-humans, and so forth, and the entire Great Assembly, upon hearing what the Buddha had said, all rejoiced, faithfully accepted it, and put it into practice.    

 

Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa:

Lư hương sạ nhiệt.

Incense heats up in the censer.

Pháp giới mông huân.

The fragrance premeates all space.

Chư Phật hải hội tất điêu văn.

Buddhas in all universes are aware.

Tùy xứ kiết tường vân.

Everywhere, there gathers auspicious clouds.

Thành ý phương ân.

Be sincere and solemn.

Chư Phật hiện toàn thân.

Buddhas appear in the midst of fragrant clouds.

Nam Mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần).

Let’s take refuge with the Bodhisattva in the cloud of incense (3 times).

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Let’s take refuge with our teacher Sakyamuni Buddha. 

 

Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh—The Vajracchedika Prajna Paramita Sutra—See Appendix G.

 

 

Kinh Lễ Sáu Phương—Worship In The Six Directions Sutra

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Namo Sakyamuni Buddha

Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật

Namo Bhaisajaguru Medicine Buddha

Nam Mô A Di Đà Phật

Namo Amitabha Buddha

Nam Mô Phổ Hiền Bồ Tát

Namo Bodhisattva Samantabhadra

Nam Mô Địa Tạng Vuơng Bồ Tát

Namo Bodhisattva Ksitigarbha

Nam Mô Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật

Namo Maitreya, the Future Buddha

Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát

Namo Bodhisattva Avalokitesvara

Nam Mô Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát

Namo Bodhisattva Manjusri

 

Buổi sáng nọ, chàng Thiện Sanh

One morning, young Sigala

Mặc áo mũ, lễ Sáu phương

Dressed and well-groomed, prayed six directions

Phật hỏi rằng: “Lễ gì thế?”

The Buddha asked: “To what do you pray?”                              

Chàng mới kể:

He explained:

“Theo lời cha, thời lễ vậy.”

“Father said, every morning, pray like this.”

Phật bèn dạy:

The Buddha taught:

“Ngươi hiểu lầm, lễ tại tâm.”

“You are wrong, sincere pray is in heart.”

Ngươi nên biết:

You should know:

“Sáu ác nghiệp, trừ ngay đi!”

“The six evil karmas, cease them now!”

Đừng rượu chè, chớ cờ bạc

No to drink, not to bet

Đừng biếng nhác, chớ bạn xằng

Not to loaf, no bad friends

Đừng nói nhằng, chớ gian ác

Not to gossip, not to cheat

Trừ sáu ác, lễ sáu phương

Reject these wrongs, pray six ways

Kẻ bất lương, lễ vô bổ

Wrong-doers, pray uselessly

Nên biết rõ, tu cõi lòng!

You should know, how to cultivate your mind!

1) Lễ phương Đông

Pray to  East

Là Cha mẹ, giữ đủ lễ

For Parents, keep to rules

Sớm cùng khuya, có việc gì,

Dawn to dusk, do your chores,

Phải làm đỡ, phải thương nhớ đến song thân.

Always help out, love them both mom and dad.

Khi yếu đau, phải chạy chữa.

When they are ill, find them a cure.

Chăm sóc kỹ, yên lòng già.

Take care of them well in old age.

Làm cha mẹ, cho trọn đạo:

Parents too, fullfil duties:

Nên dạy bảo, theo điều lành

Teach and guide, the right way

Nên dỗ dành, gần người giỏi

Should coax child, to play with good

Khuyên gắng giỏi, chăm học hành

Make child try to study well

Tuổi trưởng thành, tìm đôi lứa

When at age, help them with marriage

Dựng nhà cửa, dạy làm ăn

Build them home, teach them work.

2) Lễ Nam phương

Pray to South:

Là sư đệ, phải kính nể, phải nghe lời

For teacher, show respect, and obey

Học chớ lười, làm chớ ngại

Strive for best, be earger.

Phải khen ngợi, công đức Thầy

You must praise, the Teacher’s efforts.

Đạo làm Thầy, cũng không dễ

Be a teacher, is so hard

Phải chăm chỉ, dạy cho mau

Be hard-working, teach quickly

Mong trò sau, thành người giỏi.

Hope students, accomplish well.

Học tấn tới, hơn trò người

Study well, better than others

Cố trau dồi, hiểu đạo lý

With your ability, make them know

Những nghi nghĩa, vạch cho hay

Explain doubtful points fluently.

3) Lễ phương Tây

Pray to West

Là chồng vợ,

For spouses

phải niềm nở, lúc chồng đi về

Be cheerful to husband, when husband leaves and returns

Lo gia chánh

Take care of home

Nét trinh tĩnh

Be faithful

Lòng chuyên chính

Be loyal

Có của riêng, đừng tư túi

Share all thing, not for self

Chồng giận dỗi, phải ôn tồn

When he’s mad, don’t hold a grudge.

Chồng khuyên ngăn, phải phục tùng

When he’s corect, should listen

Phải săn sóc, việc trong ngoài

Take care of household

Chồng ngủ rồi, mới đi ngủ.

When he sleeps, then you sleep.

Chồng đối vợ, có nhân nghĩa

Husband rules, should be kind

Khi đi về, phải chào hỏi

When wife leaves and returns, then greet her

Ăn đúng buổi, nghỉ đúng giờ

Eat when time, sleep when time

Để vợ mình, khỏi phiền lòng

So that wife won’t worry

Sắm cho vợ, tùy lực mình

Buy her things to your best

Áo quần lành, trang sức đủ

Purchase clothes and jewelry.

Giao cho vợ, giữ tiền tài

Give her charge of income

Cùng tiêu xài, không dấu diếm

Both spend funds, don’t hide it.

Tình âu yếm, trong thủy chung

Always love her, from start to end

Không hai lòng, với kẻ khác

Be faithful, have one wife.

4) Lễ phương Bắc

Pray to North

Là bầu bạn, răn nhắc nhau

For friends, explain faults

Tránh điều dữ

Avoid wrongs

Phải giúp đở, lúc tai nàn

Aid friends, when in need

Nghĩa keo sơn, ngày gắn chặt

Know burden to others

Thường thân mật, viếng thăm nhau

Keep in touch, don’t forget

Chuyện riêng nhau, đừng tiết lộ

Private things, don’t disclose

Giàu giúp của, khỏe giúp công

If rich give poor, if strong give hand

Cam khổ đồng, thù tạc hậu

Share the joys and sorrows

Đừng oán cáu, chớ tham ô

Erase temper and avarice.

Mối thù hiềm, nên dứt đứt

Once angered always forgive

5) Lễ xuống đất

Pray to Ground

Là tớ thầy, trước khi sai

For bosses, when command

Xem sức đã

See if able

Có tội quá, đừng phạt ngay

If at fault, delay rage

Xét gian ngay, cân nặng nhẹ

Look at fault, weigh motives

Lượng tình lý, gồm nhu cương

Recall traits, ease sentence

Khi ốm đau, phải thương xót

When he is ill, be caring

Cấp thang thuốc, không tiếc gì

Give him drugs, don’t regret

Thưởng vật chi, không thiên lệch

Reward god, favor none.

Củûa tích trử, nó có riêng

Possessions, his to keep

Phải phân minh, không đoạt thủ

Keep separate, take them not

Ở với chủ, hết đạo tôi

For worker

Sáng sớm mai, dậy trước chủ

Rise early, before boss

Việc phận sự, phải hết lòng

Complete tasks, best you can

Đồ ăn dùng, đừng hao phí

Food you eat, do not waste

Phải kính nể, phải chào mời

Have respect, greet master

Khen ngợi người, chớ báng nhiếc

Compliment, not degrade.

6) Lễ lên Trời

Pray to Sky

Tin theo lời, lòng thành thật

Follow thoughts, of true hearts

Bảo các việc, phải vâng làm

You listen and follow

Nên biết ham, nghe đạo lý

Be eager of knowledge

Nghe mà nghĩ, nghĩ mà tu

Hear but know, know but do

Pháp Phật mầu, hỏi cho vở

Deep concepts, require search

Bậc trí giả, phải dạy người

For sages, teach others

Dạy lễ nghi, không phóng túng

Preach moral, not to be free.

Thương các giống, cứu chúng sanh

Love all things, save all beings

Dạy “thanh tịnh,” dạy “bố thí.”

Show them peace, teach them giving

Dạy “định lòng,” dạy “trì giới.”

Teach them “ease at heart,” act in “rules.”

Dạy ít nói, mà chăm làm

Reticence, be hard-working

Dạy “phát tâm,” cầu “Tịnh độ.”

Teach them “vow,” contentment to Pure Land.

Sáu điều đó, làm được ra

These six guides, once mastered

Ấy tức là, phép lễ bái.

You have reached, end of prayer.

Thiện Sanh lạy, xin quy-y

Sigala bowed, asked three refuges

Phật vỗ về, đọc câu kệ:

Buddha consoled him and said:

Đừng ngủ trễ, sáng dậy ngay

Don’t sleep late, rise early

Chấp hai tay, dâng hương nước

Clasp both hands, prepare pray

Cúng dâng trước, phát nguyện sau:

First Buddha, wich later:

Bốn ân sâu, lo báo bổ

Be thankful of the past

Phép “Lục Độ,” phải cần tu

These six paramitas, must practice

Trừ “si ngu,” thành “trí tuệ.”

Don’t be dark, then things clear

Chăm “Bố thí,” hết tham tàng.

Learn to “give,” no more greed.

Trừ “hờn giận,” thành “kiên nhẫn.”

Hold temper, be patience

Chăm “tinh tấn,” hết “lỗi lầm.”

If you try, you won’t fail.

Trừ “phóng tâm,” thành “thiền định.”

Do not wander, you will be free

Đừng lười lĩnh, thì giờ qua

Lazy not, time passes fast

“Sanh, lão, bịnh, tử” khổ

Born, sick, age, death is last.

Đời người thọ, được bao lâu?

Life is dear, it is short.

Thân thích đâu, khi hấp hối

Where’s kinsman, when you die

Thuốc nào khỏi, vô phương trốn

There is no cure, or can hide

Khách qua đường, ra quán trọ

Life is like, a crossing

Nào con vợ, nào mẹ cha

Like child wife, like mon dad

Vừa một nhà, phút đôi ngả

Live unite, die and part

Như thế cả, cảnh vô thường

Life is that, constant change

Trang sáu đường, luân hồi mãi

In six roads, life is that

Nay mai lại, được làm người

Maybe for now, you are born a man

Biết đạo hay, tu mà độ

Good Buddha, brings success

Độ mình trước, độ người sau

Help self first, then others

Vượt bể sầu, thuyền “Lục Độ.”

Conquer bad, boat search near

Bến “Lạc thổ,” A Di Đà

Buddha’s land, Amitabha

Tiếp dẫn ta, mở đường ra

Helps mankind, opens path.

Hỡi tứ chúng! Nên cầu sang

Everybody! Pray for this!

Phật dạy chàng, chàng nghe Phật

Buddha taught, he listens

Mừng nhảy nhót, mà tin theo

Then rejoiced: Enlightened.     

 

 

Tâm Kinh (Bát Nhã Tâm Kinh): Prajnaparamita Hridaya Sutra--The sutra of the heart of prajna—One of the smallest, but the most vital portion in the Vast Prajnaparamita—Bát Nhã Tâm Kinh---The Heart of Prajna Paramita Sutra:

**Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách---Bodhisattva Avalokiteshvara was practicing the profound Prajna Paramita, he illuminated the five skandhas and saw that they are all empty, and he crossed beyond all sufferings and difficulties.

**Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị---Shariputra! form does not differ form emptiness, emptiness does not differ from form; form itself is emptiness, emptiness itself is form; so too are feeling, cognition, formation and consciousness.

**Xá Lợi tử! Thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm---Shariputra! All Dharmas are empty of characteristics. They are not produced, not destroyed, not defiled, not pure, and they neither increase nor diminish.

**Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức, vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới, vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc---Therefore, in emptiness there is no form, feeling, cognition, or consciousness; no eyes, ears, nose, tongue, body, or mind; no sights, sounds, smells, tastes, objects of touch, or Dharmas; no field of the eyes up to and including no field of mind consciousness and no ignorance or ending of ignorance, up to and ending no old age and death or ending of old age and death. There is no suffering, no accumulating, no extinction, and no way, and no understanding and no attaining.

**Dĩ vô sở đắc cố, Bồ Đề Tát Đỏa y Bát Nhã Ba La Mật Đa cố, tâm vô quái ngại; vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết Bàn Tam Thế chư Phật y Bát Nhã Ba La Mật Đa cố, đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề---Because nothing is attained, the Bodhisattva through reliance on Prajna Paramita is unimpeded in his mind. Because there is no impediment, he is not afraid and he leaves distorted dream-thinking far behind. Ultimately Nirvana! All Buddhas of three periods of time attain anuttarasamyak-sambodhi through reliance on the Prajna Paramita.

**Cố tri Bát Nhã Ba La Mật Đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư---Therefore, know that Prajan Paramita is a great spiritual mantra, a great bright mantra, a supreme mantra, an unequalled mantra. It can remove all suffering: It is genuine and not false.

**Cố thuyết Bát Nhã Ba La Mật Đa chú, tức thuyết chú viết---That is why the mantra of Prajna Paramita was spoken. Recite it like this:

**Yết đế yết đế, Ba La Yết đế, Ba la tăng yết đế Bồ đề Tát bà ha! Gate Gate Paragate Parasamagate Bodhi Svaha! (3 times).

Maha Prajan Paramita (3 times).

 

Kinh Từ Thiện: Metta-Sutta (p)—Maitri-Sutra (skt)—Kinh nói về lòng từ thiện soạn bởi trường phái Phật giáo Tiểu thừa. Đây là một trong những bản văn được biết rộng rãi nhất của Theravada và được tứ chúng của trường phái nầy trì tụng mỗi ngày---Sutra on Kindness composed by the  Hinayana school.  It is one of the most popular texts of the Theravada and recited daily by monks, nuns and lay people in this school. The texts says:

“Đây là những gì nên làm của những kẻ khôn ngoan, đi tìm giải thoát, và biết thực nghĩa của nơi yên tĩnh—Người đó phải kiên quyết, ngay thẳng và thật thà; trong khi vẫn dịu dàng, chăm chú và trừ bỏ mọi kiêu hãnh; người đó luôn sống đạm bạc và dễ bằng lòng, khiêm nhường, chăm chỉ vừa phải, nhưng thông minh và luôn làm chủ được các giác quan---Còn về chuyện gia đình thì không có tham vọng lớn, dễ hài lòng, không mãi miết trong những mục đích xấu. Để cho tha nhân, các vị hiền triết phải tự trách mình. Phải cầu cho mọi người được yên bình hạnh phúc, cầu cho tất cả được hoàn toàn hạnh phúc. Cầu cho mọi sanh linh, đang vận động hay đang nằm im, đang bò hay đang bay, nhỏ hay vừa, khỏe hay ốm, hữu hình hay vô hình, gần hay xa, Đã thọ sanh hay vẫn còn nằm trong thai, tất cả đều được hạnh phúc! Cầu cho người đó đừng bao giờ trêu chọc người khác. Hãy đừng bao giờ lừa gạt ai hay khinh miệt ai! Hãy đừng bao giờ bị thúc đẩy bởi oán giận hay hận thù để rồi tự mình gây ra lầm lỗi!  Giống như một người mẹ che chở cho đứa con, đứa con độc nhất bằng cả cuộc đời. Đối với tất cả phải giữ gìn cho lòng mình tránh mọi ngăn cách. Bày tỏ lòng từ thiện với tất cả mọi người, giữ cho tinh thần mình không thành kiến, không hẹp hòi với trên, dưới và với xung quanh. Không một chút thù hằn và đối địch. Đứng, ngồi, nằm hay đi. Dù đấu tranh chống sự yếu mềm như thế nào, cũng cố giữ lấy tinh thần. Thái độ nầy được coi là lối sống Thánh thần trên mặt đất. Tránh sa vào tà thuyết, cố giữ lấy giới luật và thiền định cho trí tuệ triển khai, chiến thắng những cơn khao khát đòi hỏi khoái lạc. Thì không còn tái sanh lần nào nữa trong bụng mẹ---This is what should be done by a man who is wise, who seeks the good, and know the meaning of the place of peace. Let him be strenuous or determined, upright, and truly straight. Let him not be submerged by the things of the world, free of cares  (đạm bạc) and easily contented and joyous—Let his sense be controlled. Let him not desire great possessions even for his family. Let him do nothing that is mean or that the wise would reprove. May all beings be happy and at their ease! May they be joyous and live in safety!  All beings whether weak or strong, in high, middle or low realms of existence, small or great, visible or invisible, near or far away, born or to be born—May all beings be hapy at their ease! Let none deceives another, or despites any beings in any states! Let none be anger or ill-will wish harm to another!  Even as a mother watches over and protects her child, her only child , so with a boundless mind should one cherish all living beings, radiating friendliness over the entire world, above, below, and all around without limit. So let him cultivate a boundless good will towards the entire world, uncramped, free from ill-will or enmity. Standing or walking, sitting or lying down, during all his walking hours, let him establish this mindfulness of goodwill, which men call the highest state. Abandoning vain discussions, having a clear vision, free from sense appetites, he who is made perfect will never again know rebirth.  

 

Kinh Vu Lan Bồn: The Ullambana Sutra—Kinh được Ngài Trúc Pháp Hộ dịch sang Hán tự—The sutra was translated into Chinese by Dharmaraksa--Xem Vu Lan Bồn in Vietnamese-English Section and Ullambana in Pali/Sanskrit Section.

**Phật thuyết Kinh Vu Lan Bồn—The Buddha speaks the Ullambana Sutra:

**Nam Mô Vu Lan Hội Thượng Phật Bồ Tát—Namo Homage to The Ullambana Assembly of Buddhas and Bodhisattvas (3 times).

**Ta từng nghe lời tạc như vầy:

    Một thuở nọ Thế Tôn an trụ,

    Xá Vệ thành Kỳ-thụ viên trung,

    Mục Liên mới đặng lục thông,

    Muốn cho cha mẹ khỏi vòng trầm luân.   

    Công dưỡng dục thâm ân dốc trả,

    Nghĩa sanh thành đạo cả mong đền,

     Làm con hiếu hạnh vi tiên,

  Bèn dùng huệ nhãn dưới trên kiếm tầm.

---Thus I have heard, at one time, the Buddha dwelt at Shravasti in the Garden of the Benefactor of Orphans and the Solitary. Mahamaudgalyayana had just obtained the six penetrations and wished to cross over his father and mother to repay their kindness for raising him. Thus using his wisdom eye to search for his deceased parents.

**Thấy vong mẫu sanh làm ngạ quỷ,

     Không uống ăn tiều tụy hình hài.

     Mục Liên thấy vậy bi ai,

     Biết mẹ đói khát ai hoài tình thâm.

     Lo phẩm vật đem dâng từ mẫu,

     Đặng đở lòng cực khổ bấy lâu.

     Thấy cơm mẹ rất lo âu,

     Tay tả che đậy, hữu hầu bốc ăn,

     Lòng bỏn xẻn tiền căn chưa dứt,

     Sợ chúng ma cướp giựt của bà.

     Cơm đưa chưa tới miệng đà,

     Hóa thành than lửa nuốt mà đặng đâu.

He regarded the world and saw that his deceased mother had ben born among the hungry ghosts, having neither food nor drink, she was but skin and bones. Mahamaudgalyayana felt deep pity and sadness, filled a bowl with food and went to provide for his mother. She got the bowl, screened it with her left hand, and with her right hand she made the first fist of food. But before it entered her mouth, it turned into burning coals which could not be eaten. 

**Thấy như vậy âu sầu thê thảm,

     Mục Kiền Liên bi cảm xót thương,

     Mau mau về đến giảng đường,

    Bạch cùng sư phụ tìm phương giải nàn. 

     Phật mới bảo rõ ràng căn cội,

     Rằng mẹ ông gốc tội rất sâu.

     Dầu ông thần lực nhiệm mầu,

     Một mình không thể ai cầu được đâu.

     Lòng hiếu thảo của ông dầu lớn,

     Tiếng vang đồn thấu đến Cửu Thiên,

     Cùng là các bậc Thần Kỳ

     Tà ma ngoại đạo bốn vì Thiên Vương.

     Cộng ba cõi sáu phương tu tập,

     Cũng không phương cứu tế mẹ ngươi.

--Mahamaudgalyayana called out and wept sorrowfully, and hastened to return to the Buddha to set forth all of this. The Buddha said: “Your mother’s offences are deep and firmly rooted. You alone do not have enough power. Although your filial sounds move heaven and earth, the Heaven spirit, the Earth spirit, Twisted demons, and Those outside the way, Brahmans, and the Four Heavenly King Gods are also without sufficient strength.

**Muốn cho cứu đặng mạng người.

 Phải nhờ thần lực của mười phương Tăng    

    Pháp cứu tế ta toan giải nói,

    Cho mọi người thoát khỏi ách nàn,

    Bèn kêu Mục Thị đến gần,

   Truyền cho diệu pháp ân cần thiết thi.

    Rằm tháng bảy là ngày Tự Tứ,

    Mười phương Tăng đều dự lễ nầy,

    Phải toan sắm sửa chớ chầy,

    Đồ ăn trăm món trái cây năm màu,

    Lại phải sắm giường nằm nệm lót,

    Cùng thau, bồn, đèn, đuốc, nhang, dầu.

    Món ăn tinh sạch báu mầu,

  Đựng trong bình bát vọng cẩu kính dâng 

    Chư Đại Đức mười phương thọ thực,

    Trong bảy đời sẽ đặng siêu thăng.

    Lại thêm cha mẹ hiện tiền,

    Đặng nhờ phước lực tiêu khiên ách nàn

    Vì ngày ấy Thánh Tăng đều đủ,

    Dầu ở đâu cũng tụ hội về.

    Như người Thiền định sơn khê,

   Tránh điều phiền não chăm về thiền na

    Hoặc người đặng bốn tòa đạo quả,

    Công tu hành nguyện thỏa vô sanh

    Hoặc người thọ hạ kinh hành,

   Chẳng ham quyền quí ẩn danh lâm tòng

    Hoặc người đặng lục thông tấn phát,

   Và những hàng Duyên Giác, Thanh văn

    Hoặc chư Bồ Tát mười phương,

    Hiện hình làm sãi ở gần chúng sanh

    Đều trì giới rất thanh rất tịnh,

    Đạo đức dầy chánh định chơn tâm.

    Tất cả các bậc Thánh Phàm,

    Đồng lòng thọ lãnh bát cơm lục hòa,

    Người nào có sắm ra vật thực,

    Đặng cúng dường Tự tứ Tăng thời,

    Hiện tiền phụ mẫu của người

    Bà con quyến thuộc thảy đều nhờ ơn,

    Tam đồ khổ chắc rằng ra khỏi

    Cảnh thanh nhàn hưởng thọ tự nhiên.

    Như còn cha mẹ hiện tiền,

    Nhờ đó cũng đặng bá niên thọ trường.

    Như cha mẹ bảy đời quá vãng,

    Sẽ hóa sanh về cõi Thiên cung,

    Người thời tuấn tú hình dung,

   Hào quang chiếu sáng khắp cùng châu      

   thân.

---The awesome spiritual power of the Assembled Sangha of the ten directions is necessary for liberation to be attained. I shall now speak a Dharma of rescue which causes all those in difficulty to leave worry and suffering, and to eradicate obstacles from offenses. The Buddha told Mahamaudgalyayana: “The fifteen day of the seventh month is the Pravarana Day for the Assembled Sangha of the ten directions. For the sake of Fathers and Mothers of seven generations past, as well as for fathers and mothers of the present who are in distress, you should prepare an offering of clean basins full of hundreds of flavors and five fruits, and other offerings of incense, oil, lamp, candles, beds, and bedding, all the best of the world, to the Greatly Virtuous Assembled Sangha of the ten directions. On that day, all the Holy Assembly, whether in the Mountains practicing Samadhi, or obtaining the Four Fruits (levels) of the Way, or walking beneath trees, or using the Independence of the Six Penetrations, to teach and transform. Sound Hearers and those Enlightened to Conditions, or provisionally manifesting as Bhikhus when in fact they are Great Bodhisattvas on the Tenth Ground. All complete in pure precepts and oceanlike virtue of the Holy Way, should gather in  a Great Assembly and all of like mind receive the Pravarana Food. If one  thus makes offerings to these Pravarana Sangha, one’s present father and mother, parents of the seven generations, as well as the six kinds of close relatives, will escape from the three paths of sufferings, and at that time attain release. Their clothing and food will spontaneously appear. If the parents are still alive, they will have wealth and blessing for a hundred years. Parents of seven generations will be born in the Heavens. Transformationally born, they will independently enter the celestial flower light, and experience limitless bliss.

*Phật dạy bảo mười phương Tăng chúng,

   Phải tuân theo thể thức sau nầy,

   Trước khi thọ thực đàn trai,

   Phải cầu chú nguyện cho người tín gia.

   Cầu thất thế mẹ cha thí chủ,

   Định tâm thần quán đủ đừng quên,

   Cho xong ý định hành thiền,

   Mới dùng phẩm vật đàn tiền hiến dâng.

   Khi thọ dụng nên an vật thực,

   Trước Phật đài hoặc tự tháp trung,

   Chư Tăng chú nguyện viên dung,

   Sau rồi tự tiện thọ dùng bữa trưa.

   Pháp cứu tế Phật vừa nói dứt,

   Mục Liên cùng Bồ Tát chư Tăng,

   Đồng nhau tỏ dạ vui mừng,

Mục Liên cũng hết khóc thương buồn rầu

   Mục Liên mẫu cũng trong ngày ấy,

   Kiếp khổ về ngạ quỷ được tan.

--At that time the Buddha commanded the Assembled Sangha of the ten directions to recite Mantras and Vows for the sake of  the donor’s family, for parents of seven generations. After practicing Dhyana concentration, they then may accept the food. When first receiving the basin, place it before the Buddha in the stupa. When the Assembled Sangha has finished the Mantras and Vows, then they may accept it. At that time the Bhikhsu Maudgalyayana and the Assembly of Great Bodhisattvas were all extremely delighted and the sorrowful sound of Maudgalyayana’s crying ceased. Also at that time Maudgalyayana’s mother obtained liberation from the kalpa of suffering as a hungry ghost.   

*Mục Liên bạch với Phật rằng:

   Mẹ con nhờ sức Thánh Tăng khỏi nàn,

   Lại cũng nhờ oai thần Tam Bảo,

   Bằng chẳng thì nạn khổ khó ra.

   Như sau đệ tử xuất gia,

   Vu Lan Bồn pháp dùng mà độ sanh.

   Độ cha mẹ còn đương tại thế,

   Hoặc bảy đời có thể đặng không?

   Phật rằng: “Lời hỏi rất thông,

   Ta vừa muốn nói con thì hỏi ngay.

   Thiện nam tử, tỳ kheo nam nữ,

   Cùng quốc vương, thái tử, đại thần,

   Tam công, tể tướng, bá quan,

   Cùng hàng lê thứ vạn dân cõi trần.

   Như chí muốn đền ơn cha mẹ,

   Hiện tại cùng thất thế tình thâm,

   Đến rằm tháng bảy mỗi năm,

   Sau khi kiết hạ chư Tăng tụ về.

   Chính ngày ấy Phật đà hoan hỷ,

   Phải sắm sanh bá vị cơm canh,

   Đựng trong bình bát tinh anh,

   Chờ giờ Tự tứ chúng Tăng cúng dường,

  Đặng cầu nguyện song đường trường thọ

   Chẳng ốm đau cũng chẳng khổ chi,

   Cùng cầu thất thế đồng thì,

   Lìa nơi ngạ quỷ, sanh về nhơn, Thiên.

   Đặng hưởng phước nhân duyên vui đẹp,

   Lại xa lìa nạn khổ cực thân.

   Môn sanh  Phật tử ân cần,

   Hạnh tu hiếu thiện phải cần phải chuyên.                           

   Thường cầu nguyện bá gia an hảo,

   Cùng bảy đời phụ mẫu siêu sanh.

   Ngày rằm tháng bảy mỗi năm,

   Vì lòng hiếu thảo ơn thâm phải đền.

   Lễ cứu tế chí thành sắp đặt,

   Ngõ cúng dường chư Phật chư Tăng.

   Ấy là báo đáp thù ân,

Sanh thành dưỡng dục song thân buổi đầu

   Đệ tử Phật lo âu gìn giữ,

   Mới phải là Thích tử Thiền môn.”

   Vừa nghe dứt pháp Lan Bồn,

   Môn sanh tứ chúng thảy đồng hỷ hoan.

   Mục Liên với bốn ban Phật tử,

   Nguyện một lòng tín sự phụng hành.

   Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ 

    Tát Ma Ha Tát (3 lần).

--Maudgalyayana addressed the Buddha and said: “This disciple’s parents have received power of merit and virtue of the Triple Jewel, because of the awesome spiritual power of the Assembled Sangha. If in the future the Buddha’s disciples practice filiality by offering up the Ullambana basins, will they be able to cross over their present parents as well as those of the seven generations in the past?  The Buddha replied: “Good indeed, I am happy you ask this question. I just wanted to speak about that and now you have also asked about it. Good man, if Bhikhsus, Bhikhusnis, Kings, Crown Princes, Great Ministers, Great Officials, Cabinet Members, the hundreds of Officers, and the Tens of thousands of Citizens wish to practice compassionate filial conduct, for the sake of the parents  who bore them, as well as  for the sake of fathers and mothers of seven lives past, on the fifteenth day of the seventh month, the day of the Buddha’s delight, the day of the Sangha’s Pravarana, they should place hundreds of flavors of foods in the Ullambana basins, and offer them  to the Pravarana Sangha of the ten directions. They should vow to cause the length of life of the present father and mother to reach a hundred years without illness, without sufferings, afflictions, or worries, and also vow  to cause seven generations of fathers and mothers to leave the sufferings of the hungry ghosts, to be born among Men and Gods, and to have blessings and bliss witohut limit.”  The Buddha told all good men and good women, “Those disciples of the Buddha who cultivate filial conduct should in thought after thought, constantly recall their present fathers and mothers when making offerings, as well as the fathers and mothers of seven lives past.  Every year, on the fifteeth day of the seventh month, they should always, out of filial compassion, recall their parents who bore them and those of seven lives past.  And for their sakes perform the offering of the Ullambana basin to the Buddha and the Sangha and thus repay the loving kindness of the parents who raised and nourished them. All Buddhas’ disciples should respectfully receive this Dharma.

At that time the Bhikhsu Maudgalyayana and the Four-fold Assembly of Disciples, hearing what the Buddha said, practiced it with delight.

Namo Great Filial Maudgalyayana Bodhisattva! (3 times). 

 

Châm Ngôn Tục NgữPrecepts and Proverbs:

Đừng làm chuyện trái ngược: Don’t put the cart before the horse.  

Giọt nước cuối cùng làm tràn ly: The last straw that breaks the camel’s back.  

Hạnh phúc thay những kẻ biết hưởng vận thịnh cũng như biết chịu đựng lúc vận suy: Happy is the man who can endure with equanimity the highest and the lowest fortune.  

Đừng tin những đứa ngồi lê đôi mách: Put no faith in tale-bearers.  

Hãy khen tặng các bạn anh trước công chúng và khiển trách họ ở trong nhà: Admonish your friends in private, praise them in public.   

Người không leo không ngã: He that never climbed never fell.  

Hãy suy nghĩ trước khi nói: Think before you speak.  

Đừng để ý đến chuyện thị phi: Never mind what people say.  

Họa phúc do mình: Everyman is the architect of his own fortune.  

Hữu sinh hữu tử, hữu thân hữu khổ: Nothing is certain but death and taxes.  

Người khôn nói ít nghe nhiều: The wise man who speaks a little but hears much.  

Người không trọng mình, chẳng ai trọng mình: He that respects not is not respected.  

Nồi nào vung nấy: Every Jack has his Jill.  

Càng nói ít càng tốt: The less said the better.  

Nhu thắng cương, nhược thắng cường: Better bend than break.  

No mất ngon, giận mất khôn: Angry and haste hinder good counsel.  

Những gì cần làm nên làm ngay: A stich in time saves nine.  

Những lời thề nguyền trong bão tố thường bị quên đi khi đẹp trời: Vows made in storms are forgotten in clams.  

Sự học không phân biệt tuổi tác: You are never old to learn.  

Tham thực, cực thân: Many dishes make many diseases. 

Uốn lưỡi bảy lần trước khi nói: Think twice before you speak once.  

Vạn sự khởi đầu nan: All things are difficult before they are easy.  

Hãy để cho quá khứ  là quá khứ: Let bygones be bygones.  

Người có giáo dục chân chánh là người tự giáo dục: The only really educated men  are the self-educated.  

Người không muốn thấy còn tệ hơn cả người mù: None  so blind as those that will not see.  

Người không muốn nghe còn tệ hơn cả người điếc: None so deaf as those that will not hear.   

Phải suy nghĩ trước khi làm việc gì: Look before you leap.  

Phòng bệnh hơn chữa bệnh: Prevention is better than cure. 

 

 

---o0o---

Phụ Lục  | A | B | C | D | E | F | G | H | I | J | K | L | M | N

---o0o---

Mục Lục | Việt Anh | Anh -Việt | Phạn/Pali-Việt | Phụ Lục

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 1-4-2006

© Copyright 2013 Tu Viện Tường Vân. All Rights Reserved.
Địa chỉ : E4/6 – Nguyễn Hữu Trí – TT. Tân Túc – H.Bình Chánh – TP. HCM
Điện thoại : (08)66758929 - (08)62689409