TỪ ĐIỂN PHẬT HỌC

BUDDHIST DICTIONARY
VIETNAMESE-ENGLISH
ENGLISH-VIETNAMESE
SANSKRIT/PALI-VIETNAMESE

THIỆN PHÚC

 PHỤ LỤC (APPENDICES)

 

Appendix L

Kinh Ðịa Tạng

The Earth-Store Bodhisattva Sutra

 

 

CHƯƠNG THỨ NHẤT—CHAPTER ONE

THẦN THÔNG TRÊN CUNG TRỜI ÐAO LỢI SPIRITUAL PENETRATIONS IN THE PALACE OF THE TRAYASTRIMSHA HEAVEN

 

Ta nghe như vầy: Một thuở nọ, tại cung trời Ðao Lợi, Ðức Phật vì Thánh Mẫu mà thuyết pháp. Lúc đó, bất khả thuyết bất khả thuyết tất cả chư Phật và đại Bồ Tát trong vô lượng thế giới ở mười phương đều đến hội họp, rồi đồng khen ngợi rằng ‘Ðức Thích Ca Mâu Ni có thể ở trong đời ác ngũ trược mà hiện sức đại trí huệ thần thông chẳng thể nghĩ bàn’ để điều phục chúng sanh cang cường làm cho họ rõ pháp khổ pháp vui. Khen xong, chư Phật đều sai thị giả kính thăm Ðức Thế Tôn—Thus, I have heard; at one time, the Buddha dwelt in the Trayastrimsha Heaven, speaking Dharma for his mother. At that time, an indescribable number of Buddhas as well as Great Bodhisattva Mahasattvas, from limitless worlds in the ten directions, all assembled together to praise Sakyamuni Buddha's Ability to manifest the power of indescribably great wisdom and spiritual penetrations in the evil world of the Five Turbidities, as well as his ability to regulate and subdue obstinate living beings so that they might come to know the dharmas of suffering and bliss. Each of these sent his attendants to pay their respects to the World Honored One.

 

Bấy giờ Ðức Như Lai mỉm cười phóng ra trăm ngàn vầng mây sáng rỡ lớn. Như là vầng mây sáng rỡ đầy đủ, Vầng Mây Sáng Rỡ Ðại Từ Bi, Vầng Mây Sáng Rỡ Ðại Trí Tuệ, Vầng Mây Sáng Rỡ Ðại Bát Nhã, Vầng Mây Sáng Rỡ Ðại Tam Muội, Vầng Mây Sáng Rỡ Ðại Kiết Tường, Vầng Mây Sáng Rỡ Ðại Phước Ðức, Vầng Mây Sáng Rỡ Ðại Công Ðức, Vầng Mây Sáng Rỡ Ðại Quy-Y, Vầng Mây Sáng Rỡ Ðại Tán Thán—At that time, the Thus Come One smiled and emitted hundreds of thousands of millions of great light clouds, such as the Great Perfect Fullness Light Cloud, the Light Cloud of Great Compassion, the Light Cloud of Great Wisdom, the Light Cloud of Great Prajna, the Light Cloud of Great Samadhi, the Great Auspicious Light Cloud, the Light Cloud of Great Blessing, the Light Cloud of Great Merit, the Light Cloud of Great Refuge, and the Light Cloud of Great Praise.

 

Ðức Phật phóng ra bất khả thuyết vầng mây sáng rỡ như thế rồi Ngài lại phát ra các thứ tiếng vi diệu như là Tiếng Bố Thí Ðộ, Tiếng Trì Giới Ðộ, Tiếng Nhẫn Nhục Ðộ, Tiếng Tinh Tấn Ðộ, Tiếng Thiền Ðịnh Ðộ, Tiếng Bát Nhã Ðộ, Tiếng Từ Bi, Tiếng Hỷ Xả, Tiếng Giải Thoát, Tiếng Vô Lậu, Tiếng Trí Huệ, Tiếng Sư Tử Hống, Tiếng Ðại Sư Tử Hống, Tiếng Mây Sấm, Tiếng Mây Sấm Lớn, vân vân—After emitting more indescribable clouds of light, the Buddha also emitted a many great wonderful subtle sounds, such as the Danaparamita Sound, the Shilaparamita Sound, the Kshantiparamita Sound, the Viryaparamita Sound, the Dhyanaparamita Sound, and the Prajnaparamita Sound. The Sound of Compassion, the Sound of Joyous Giving, the Sound of Liberation, the Sound of Great Wisdom, the Sound of the Lion’s Roar, the Sound of the Great Lion’s Roar, the Sound of Thunderclouds, and the Sound of Great Thunderclouds, etc.

 

Khi Ðức Phật phát ra bất khả thuyết bất khả thuyết tiếng vi diệu như thế xong, thời có vô lượng ức hàng Trời, Rồng, Quỷ, Thần ở trong cõi Ta Bà và cõi nước phương khác cũng đến hội họp nơi  cung trời Ðao Lợi, như là Trời Tứ Thiên Vương, Trời Ðao Lợi, Trời Tu Diệm Ma, Trời Ðâu Suất Ðà, Trời Hóa Lạc, Trời Tha Hóa Tự Tại, Trời Phạm Chúng, Trời Phạm Phụ, Trời Ðại Phạm, Trời Thiểu Quang, Trời Vô Lượng Quang, Trời Quang AÂm, Trời Thiểu Tịnh, Trời Vô Lượng Tịnh, Trời Biến Tịnh, Trời Phước Sanh, Trời Phước Ái, Trời Quảng Quả, Trời Nghiêm Sức, Trời Vô Lượng Nghiêm Sức, Trời Nghiêm Sức Quả Thiệt, Trời Vô Tưởng, Trời Vô Phiền, Trời Vô Nhiệt, Trời Thiện Kiến, Trời Thiện Hiện, Trời Sắc Cứu Cánh, Trời Ma Hê Thủ La, cho đến Trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Tất cả Thiên chúng, Long chúng, cùng chúng Quỷ, Thần đều đến hội họp—After such indescribable sounds were issued forth, countless millions of gods, dragons, ghosts, and spirits from the Saha World and worlds in other locations, also assembled in the Palace of the Triyastrimsha Heaven. That is from the Heaven of the Four Kings, the Tryastrimsha Heaven, the Suyama Heaven, the Tushita Heaven, the Bliss From Transformation Heaven, the Heaven of Comfort Gained Through Others’ Transformations, the Heaven of the Multitudes of Brahma, the Heaven of the Ministers of Brahma, the Heaven of the Great Brahma Lord, the Heaven of Lesser Light, the Heaven of Limitless Light, the Heaven of Light Sound, the Heaven of Lesser Purity, the Heaven of Limitless Purity, the Heaven of Universal Purity. The Birth of Blessing Heaven, the Love of Blessing Heaven, the Abundant Fruit Heaven, the No-Thought Heaven, the No-Affliction Heaven, the No-Heat Heaven, the Good Views Heaven, the Good Manifestation Heaven, the Ultimate Form Heaven, the Maheshvara Heaven, and so forth, until the Heaven of the Station of Neither Thought Nor Non-Thought. All those assemblies of gods, dragons, ghosts and spirits came and gathered together.  

 

Lại có những vị Thần ở cõi Ta Bà cùng cõi nước phương khác như thần biển, thần sông, thần rạch, thần cây, thần núi, thần đất, thần sông chằm, thần lúa mạ, thần chủ ngày, thần chủ đêm, thần hư không, thần trên trời, thần chủ ăn uống, thần cây cỏ, vân vân. Các vị thần như thế đều đến hội họp—Moreover, sea spirits, river spirits, stream spirits, tree spirits, mountain spirits, earth spirits, brook and marsh spirits, sprout and seeding spirits, day, night, and space spirits, heaven spirits, food and drink spirits, grass and wood spirits, and other such spirits from the Saha and worlds in other locations came and gathered together.

 

Lại có những đại quỷ vương ở cõi Ta Bà cùng các cõi phương khác như Ác Mục Quỷ Vương, Ðạm Huyết Quỷ Vương, Ðạm Tinh Khí Quỷ Vương, Ðạm Thai Noãn Quỷ Vương, Hành Bịnh Quỷ Vương, Nhiếp Ðộc Quỷ Vương, Phước Lợi Quỷ Vương, Ðại Ái Kính Quỷ Vương, vân vân. Các Quỷ Vương như thế đều đến hội họp—In addition, all the great ghost   kings from the Saha and worlds in other locations, came and gathered together. They were the Evil-Eyed Ghost King, the Blood-Eating Ghost King, the Escence-and-Energy-Eating Ghost King, the Foetus and Egg-Eating Ghost King, the Sickness-Spreading Ghost King, the Poison-Gathering Ghost Kng, the Kind-Hearted Ghost King, the Blessing and Profit Ghost King, the Great Love and Respect Ghost King, and others.

 

Bấy giờ Ðức Thích Ca Mâu Ni Phật bảo ngài Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử đại Bồ Tát rằng: “Ông xem coi tất cả chư Phật, Bồ Tát, và Trời, Rồng, Quỷ, Thần đó ở trong quốc độ nầy cùng quốc độ khác, nay đều đến hội họp tại cung trời Ðao Lợi như thế, ông có biết bao nhiêu chăng?”—At that time, Sakyamuni Buddha said to the Great Being, the harma Prince, Bodhisatva Manjusri, “As you regard these Budhas, Bodhisattvas, gods, dragons, ghosts and spirits from this land and other lands, who have now come and assembled in the Trayastrimsha Heaven, do you know their number?”

 

Văn Thù Sư Lợi bạch Phật rằng: “Bạch Ðức Thế Tôn! Nếu dùng thần lực của con để tính đếm trong ngàn kiếp cũng không biết là số bao nhiêu!”—Manjusri said to the Buddha: “World Honored One! Even if I were to measure and reckon with my spiritual powers for a thousand aeons, I would not be able to calculate it!”

 

Ðức Phật bảo Văn Thù Sư Lợi rằng: “Ðến ta dùng Phật nhãn xem hãy còn không đếm xiết! Số Thánh, phàm nầy đều của Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát từ thuở kiếp lâu xa đến nay, hoặc đã độ, đương độ, chưa độ, hoặc đã thành tựu, đương thành tựu, chưa thành tựu.”—The Buddha told Manjusri, “This is so because even when I regard with my Buddha eye, their number still cannot be exhausted. Throughout many aeons all these beings have been taken across, are being taken across, will be taken acros, have been brought to accomplishment, are being brought to accomplishment, or will be brought to accomplishment, by Earth Store Bodhisattva.”

 

Văn Thù Sư Lợi bạch Ðức Phật rằng: “Từ thuở lâu xa về trước con đã tu căn lành, chứng đặng trí vô ngại, nghe lời Ðức Phật nói đó thời tin nhận liền. Còn hàng tiểu quả Thanh Văn, Trời, Rồng tám bộ chúng và những chúng sanh trong đời sau, dầu nghe lời thành thật của Như Lai, nhưng chắc là sanh lòng nghi ngờ, dầu cho có lạy vâng đi nữa cũng chưa khỏi hủy báng. Cúi mong Ðức Thế Tôn nói rõ nhơn địa của Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát; ngài tu hạnh gì, lập nguyện gì mà thành tựu được sự không thể nghĩ bàn như thế?”—Manjusri said to the Buddha: “World Honored One! Throughout many aeons I have cultivated good roots and certified to unobstructed wisdom. When I hear what the Buddha says, I immediately accept it with faith. Sound Hearers of small attainment, gods, dragons, and the remainder of the Eightfold Division, as well as other living beings in the future, may hear the Thus Come One’s sincere and actual words but will certainly harbor doubts. Even if they receive the teaching most respectfully, they will be unable to avoid slandering it. My only wish is that the World Honored One will discuss in details the conduct of Earth Store Bodhisattva while he was on the causal ground and the vows he made that have enabled him to perform successfully such an inconceivable task.”

 

Ðức Phật bảo ngài Văn Thù Sư Lợi rằng: “Ví như  bao nhiêu cỏ, cây, lùm, rừng, lúa, mè, tre, lau, đá, bụi bặm trong cõi tam thiên đại thiên, cứ một vật làm một sông Hằng, rồi cứ số cát trong mỗi sông Hằng, một hạt cát làm một cõi nước, rồi trong một cõi nước cứ một hạt bụi nhỏ làm một kiếp, rồi bao nhiêu số bụi nhỏ chứa trong một kiếp đều đem làm kiếp cả. Từ lúc Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát chứng quả vị thập địa Bồ Tát đến nay ngàn lần lâu hơn số kiếp thí dụ ở trên, huống là những thuở Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát còn ở bậc Thanh Văn và Bích Chi Phật!”—The Buddha said to Manjusri: “By  way of analogy, it is as if all the grasses, trees, forests, rice plants, hemp, bamboo, reeds, mountains, rocks and motes of dust in the Three Thousand Great Thousand World System were enumerated, and each one made into a Ganges River, while within each Ganges River each grain of sand became a world, and within each world each mote of dust was an aeon, while within those aeons the motes of dust which would accumulate were in turn to become aeons. The time elapsed since Earth Store Bodhisattva certified to the position of the Tenth Ground is a thousand times longer than that in the above analogy. Even longer was his dwelling on the grounds of Sound Hearer and Pratyeka-Buddha.”

 

Nầy Văn Thù Sư Lợi! Oai thần thệ nguyện của Bồ Tát đó không thể nghĩ bàn đến được. Về đời sau, nếu có thiện nam tử hay thiện nữ nhân nào nghe danh tự của Ðịa Tạng Bồ Tát, hoặc khen ngợi, hoặc chiêm ngưỡng vái lạy, hoặc xung danh hiệu, cúng dường, nhẫn đến vẽ, đắp, sơn hình tượng của Ðịa Tạng Bồ Tát, thời người đó sẽ được một trăm lần sanh lên cõi trời Ðao Lợi, vĩnh viễn chẳng còn bị sa đọa vào chốn ác đạo—Manjusri, the awesome spirit and vows of this Bodhisattva are inconceivable. If good men or women in the future hear this Bodhisattva’s name, say his name, praise him, regard and worship him, call his name, make offerings to him or if they draw, carve, cast, sculpt or make laquered image of him, they will be reborn in the Heaven of the Thirty-Three one hundred times, and will never fall into the evl paths.

 

Nầy Văn Thù Sư Lợi! Trải qua bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp lâu xa về trước, tiền thân của Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát là một vị trưởng giả tử. Lúc đó, trong đời có đức Phật hiệu là Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai. Trưởng giả tử thấy Ðức Phật tướng mạo tốt đẹp ngàn phước trang nghiêm, mới bạch hỏi đức Phật tu hạnh nguyện gì mà đặng tốt đẹp như thế? Khi ấy, Ðức Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai bảo trưởng giả tử rằng: “Muốn chứng được thân tướng tốt đẹp nầy, cần phải trải qua trong một thời gian lâu xa độ thoát tất cả chúng sanh đang bị khốn khổ.”—Manjusri, many aeons ago, during the time of a Buddha named Lion Spint Complete in the Ten Thousand Practices Thus Come One, Earth Store Bodhisattva Mahasattva was the son of a great elder. Seeing that Buddha’s marks and minor characteristics and his adornment with thousand blessing caused the elder’s son to ask that Buddha what practices and vows had enabled him to achieve such an appearance. Lion Sprint Complete in the Ten Thousand Practices Thus Come One then said to the elder’s son, “If you wish to be certified as having obtained such a body, throughout long aeons you should liberate all living beings who are undergoing suffering.”  

 

Nầy Văn Thù Sư Lợi! Trưởng giả tử nghe xong liền phát nguyện rằng: “Từ nay đến tột số chẳng thể kể xiết ở đời sau, tôi vì những chúng sanh tội khổ trong sáu nẻo luân hồi mà giải bày nhiều phương tiện làm cho họ được giải thoát hết cả, rồi tự thân tôi mới chứng thành Phật đạo.” Bởi ở trước Ðức Phật Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai, ngài lập nguyện rộng đó, nên đến nay đã trải qua trăm ngàn muôn ức vô số bất khả thuyết kiếp mà ngài vẫn còn làm vị Bồ Tát!”—Manjusri! The elder’s son for that reason, made this vow: Throughout immeasurable aeons until the end of the boundaries of the future, I shall establish a vast number of expedient devices for the sake of living beings in the six paths who are suffering for their offenses. Only when they have all been liberated, will I myself accomplish Buddhahood. From the time he made that great vow in the presence of that Buddha until the present, many hundreds of thousands of nayutas of aeons have passed, and still he is a Bodhisattva.

 

Lại thuở bất khả tư nghì vô số kiếp về trước, lúc đó có đức Phật hiệu là Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai, đức Phật ấy thọ đến bốn trăm ngàn muôn ức vô số kiếp. Trong thời Tượng Pháp, có một người con gái dòng Bà La Môn, người nầy nhiều đời chứa phước sâu dầy, mọi người đều kính nể, khi đi đứng lúc nằm ngồi, chư Thiên thường theo hộ vệ. Bà mẹ của người mê tín tà đạo, thường khinh khi ngôi Tam Bảo. Thuở ấy, mặc dầu Thánh nữ đem nhiều lời phương tiện khuyên nhủ bà mẹ người, hầu làm cho bà mẹ sanh chánh kiến, nhưng bà mẹ vẫn chưa tin hẳn. Chẳng bao lâu bà ấy chết, thần hồn sa đọa và Ðịa Ngục Vô Gián—Moreover, inconceivable asamkhyeya kalpas ago there was a Buddha named Enlightenment-Flower-Samadhi Self-Mastery King Thus Come One. That Buddha’s lifespan was four hundred billion asamkhyeya kalpas. During his Dharma-Image Age, there was a Brahman woman who had many blessings from former lives and who was respected by everyone. In walking, standing, sitting and lying down, she was surrounded and protected by the gods. Her mother, however, had improper  belief and often slighted the Triple Jewel. That holy woman worked many skillful plans to entice her mother to hold right views, yet the mother did not believe them totally. Before long her life ended and her spirit fell into the Uninterrupted Hell.

 

Lúc đó, Thánh nữ biết rằng người mẹ khi còn sống không tin nhơn quả, liệu chắc phải theo nghiệp quấy mà sanh vào đường ác. Thánh nữ bèn bán nhà, đất, sắm nhiều hương, hoa cùng những đồ lễ cúng, rồi đem cúng dường tại các chùa tháp thờ Ðức Phật Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương. Trong một ngôi chùa kia thấy hình tượng của Ðức Phật Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương đắp vẽ oai dung đủ cách tôn nghiêm. Thánh nữ chiêm bái tượng của Ðức Phật lại càng sanh lòng kính ngưỡng, tự nghĩ thầm rằng: “Ðức Phật là đấng Ðại Giác đủ tất cả trí huệ, nếu Ðức Phật còn trụ ở đời, thì khi mẹ tôi khuất, tôi đến bạch hỏi Phật, chắc thế nào cũng rõ mẹ tôi sanh vào chốn nào.” Nghĩ đến đó Thánh nữ buồn tủi rơi lệ chăm chăm nhìn hình tượng Như Lai mà lòng quyến luyến mãi. Bỗng nghe trên hư không có tiếng bảo rằng, “Thánh nữ đương khóc kia, thôi đừng có bi ai quá lắm! Nay ta sẽ bảo cho ngươi biết chỗ của mẹ ngươi.”—Knowing that when her mother was in the world she had not believed in cause and effect, the Brahman woman reasoned that in accordance with her karma, her mother would certainly be reborn in the evil paths. Thereupon, she sold the family house, procured vast quantities of incense, flowers and other  items, she performed a great offering in that Buddha’s stupas and temples. In one of the temples in particular, she saw that the modelling and painting of the image of the Thus Come One Enlightenment-Flower Samadhi Self-Mastery King was awesome in appearance, well-formed, and adorned to perfection. The Brahman woman gazed in worship at the honored countenance and became doubly respectful. She thought to herself, “Buddhas are called Greatly Enlightened Ones who are complete with All Wisdom. If this Buddha were in the world and I were to ask him, he would certainly know where my mother had gone at death.” Then the Brahman woman wept for a long time as she longingly fixed her gazed upon the ‘Thus Come One’. Suddenly a voice was heard in space saying, “O, weeping holy woman, do not be so sorrowful, I shall now show where your mother has gone.”

 

Thánh nữ chấp tay hướng lên hư không mà vái rằng: “Vị Thánh Ðức nào đó mà an ủi  lòng sầu lo của tôi  như thế? Từ khi mẹ tôi mất đến nay, tôi thương nhớ ngày đêm, không biết đâu để hỏi cho rõ mẹ tôi thác sanh vào chốn nào?”—The Brahman woman placed her palms together and said into space, “What divinely virtuous one is this who comforts me in my grief? From the day I lost my mother onward, I have held her in memory day and night, but there is nowhere I can go  to ask about the realm of her rebirth.”

 

Trên hư không lại có tiếng bảo Thánh nữ rằng: “Ta là Ðức Phật quá khứ Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai, mà người đang chiêm bái đó. Thấy ngươi thương nhớ mẹ trội hơn thường tình của chúng sanh, nên ta đến chỉ bảo.”—A voice resounded from space and declared to the woman, “I am the one who you behold and worship, the past Enlightenment-Flower Samadhi Self-Mastery King Thus Come One. Because I have seen your regard for your mother  is double that of ordinary living beings, I will show you the place of her rebirth.”

 

Thánh nữ nghe nói xong liền té xỉu xuống, tay chân mình mẩy đều bị tổn thương. Những người đứng bên vội vàng đỡ dậy, một lát sau Thánh nữ mới tỉnh lại rồi bạch cùng trên hư không rằng, “Cúi xin Ðức Phật xót thương bảo ngay cho rõ chỗ thác sanh của mẹ con, nay thân tâm của con sắp chết mất!”—On hearing this voice, the Brahman woman suddenly raised herself up and then fell down, breaking all her limbs. Those around her picked her up and, after a long time, she was revived. Then she spoke into space and said, “I hope the Buddha will be compassionate, have pity on me, and quickly tell me into what realm my mother has been reborn. My present body and mind will perish not long after this!”

 

Ðức Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai bảo Thánh nữ rằng: “Cúng dường xong, ngươi mau trở về nhà, rồi ngồi ngay thẳng, nghĩ tưởng danh hiệu của ta, thời ngươi sẽ biết chỗ thác sanh của mẹ ngươi.”—Then Enlightenment-Flower Samadhi Self-Mastery King Thus Come One spoke to the holy woman and said, “After your offering is complete, return home quickly. Sit upright thinking of my name and you will certainly know your mother's place of rebirth."

 

Lễ Phật xong, Thánh nữ liền trở về nhà. Vì thương nhớ mẹ, nên Thánh nữ ngồi ngay thẳng niệm danh hiệu của Ðức Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai trải suốt một ngày một đêm. Bỗng thấy thân mình đến một bờ biển kia. Nước trong biển đó sôi sùng sục, có rất nhiều thú dữ toàn bằng sắt bay nhảy trên mặt biển, chạy rảo bên nầy, xua đuổi bên kia. Thấy những gái trai số nhiều đến ngàn muôn thoạt chìm thoạt nổi  ở trong biển, bị các thú dữ giành nhau ăn thịt. Lại thấy quỷ Dạ Xoa hình thù đều lạ lùng; hoặc nhiều tay, nhiều mắt, nhiều chân, nhiều đầu, vân vân răng nanh chỉa ra ngoài miệng, bén nhọn dường như gươm, lùa những tội nhân đến gần thú dữ. Rồi quỷ lại chụp bắt người tội, túm quắp đầu chân tội nhân lại, hình trạng muôn thứ chẳng dám nhìn lâu. Khi ấy Thánh nữ nhờ nương sức niệm Phật nên tự nhiên không kinh sợ—After she had finished worshiping the Buddha, the Brahman woman went right home where, because of the memory of her mother, she sat upright recollecting Enlightenment-Flower Samadhi Self-Mastery King Thus Come One. After a day and a night had passed, she suddenly saw herself beside a sea whose waters seethed and bubbled. Many evil beasts with iron bodies flew about the sea, rushing to the east and west. She saw hundreds of thousands of millions of men and women rising and sinking in the sea, being fought over, seized, and beheld yakshas as well, each with a different form. Some had many hands, some many eyes, some many legs, some many heads. Sharp, swordlike fangs protruded from their mouths, and they drove the offenders on towards the evil beasts. Some yakshas seized the offenders and twisted their heads and feet together in a myriad horrifying shapes at which no one would dare look for long. During that time, the Brahman woman was naturally without fear because of the power of recollecting the Buddha.

 

Có một vị quỷ vương tên là Vô Ðộc, đến cúi đầu nghinh tiếp, hỏi Thánh nữ rằng: “Hay thay Bồ Tát! Ngài có duyên sự gì đến chốn nầy?”—A ghost king named Poisonless came and bowed his head in welcome and said to the holy woman: “Good indeed, O Bodhisattva. What conditions have brought you here?”

 

Thánh nữ hỏi quỷ vương: “Ðây là chốn nào?”—The Brahman woman asked the ghost king: “What is this place?”

Quỷ vương Vô Ðộc đáp: “Ðây là biển thứ nhất ở phía tây núi Ðại Thiết Vi.”—Poisonless replied: “This is the Western side of the first encircling sea of the Great Iron Ring Mountain.”

 

Thánh nữ hỏi rằng: “Tôi nghe trong núi Thiết Vi có địa ngục, việc ấy có thực chăng?”—The holy woman said: “I have heard that hell is within the Iron Rings. Is that actually so?”

 

Vô Ðộc quỷ vương đáp: “Thực có địa ngục.”—Poisonless answered: “Hell is really here.”

 

Thánh nữ hỏi rằng: “Nay tôi làm sao để được đến chốn địa ngục đó?”—The holy woman asked: “How have I now come to the hells?”

 

Vô Ðộc đáp rằng: “Nếu không phải sức oai thần cần phải do nghiệp lực. Ngoài hai điều nầy ra ắt không bao giờ có thể đến đó được.”—Poisonless answered: “No one can come here unless one has either awesome spirit or the required karma.”

 

Thánh nữ lại hỏi: “Duyên cớ vì sao mà nước trong biển nầy sôi sùng sục như thế, và có những tội nhân cùng với các thú dữ?”—The holy woman asked: “Why is this water seething and bubbling and why are there so many people with offenses and evil beasts?”

 

Vô Ðộc đáp rằng: “Những tội nhân trong biển nầy là những người tạo ác ở cõi Diêm Phù Ðề mới chết, trong khoảng bốn mươi chín ngày không người kế tự để làm công đức hầu cứu vớt khổ nạn cho; lúc sống, kẻ đó lại không làm được nhơn lành nào cả. Vì thế nên cứ theo nghiệp ác của họ đã gây tạo mà cảm lấy báo khổ ở địa ngục, tự nhiên họ phải lội qua biển nầy. Cách biển nầy mười do tuần về phía  đông lại có một cái biển, những sự thống khổ trong biển đó gấp bội nơi biển nầy. Phía đông của biển đó lại có một cái biển nữa, sự thống khổ trong đó càng trội hơn. Ðó đều là do những nghiệp nhơn xấu xa của ba nghiệp mà cảm vời ra, đồng gọi là biển nghiệp, chính là ba cái biển nầy vậy.”—Poisonless replied: “These are the newly dead beings of Jambudvipa who have done evil deeds and who, during the first forty-nine days after their death, had no successors to perform acts of merit and virtue on their behalf and rescue them from suffering and difficulty. Moreover, during their lives, they planted no good causes. In ccordance with their own deeds, hells appear and so they naturally are striving to first cross this sea. Ten thousand yojanas east of this sea is another sea which has double the suferings of this one. East of that sea is yet another sea where the suferings are doubled still again. What the combined evil causes of the three karmic vehicles evoke is called the sea of karma. This is that place.”

 

Thánh nữ lại hỏi Quỷ vương Vô Ðộc: “Ðịa ngục ở đâu?”—The holy woman again asked the Ghost King Poisonless: “Where is hell?”

 

Vô Ðộc đáp: “Trong ba cái biển đó đều có vô số địa ngục, mỗi địa ngục đều khác nhau. Về địa ngục lớn thời có 18, kế đó có 500 địa ngục bực kế với sự khổ không lường, bực kế nữa có đến ngàn trăm cũng với sự thống khổ không lường.”—Poisonless answered: “Within the three seas are hundreds of thousands of great hells, each one different. Thee are 18 that are specifically known as great hells. In succession there are 500 with unlimited cruel sufferings, and one hundred thousand more, also with limitless sufferings.”      

 

Thánh nữ lại hỏi: “Thân mẫu của tôi mới khuất gần đây, không rõ thần hồn của người phải sa vào chốn nào?”—The holy woman asked: “My mother has not been dead long, and I do not know on what path her soul has gone?”

Quỷ vương hỏi: “Thân mẫu của Bồ Tát khi còn sống, quen làm những nghiệp gì?”—The ghost king asked the holy woman: “When the Bodhisattva’s mother was alive, what were her habitual deeds?”

 

Thánh nữ đáp: “Thân mẫu của tôi mê tín tà đạo, khinh chê ngôi Tam Bảo, hoặc có lúc tạm thời tin chánh pháp xong rồi chẳng kính. Dầu khuất không bao lâu, mà chỉ rõ đọa lạc vào đâu?”—The holy woman replied: “My mother held deviant views and ridiculed and slandered the Triple Jewel. Even if she occasionally believed, it was short-lived and turned again to disrespect. Although she has been dead but a few days, I do not know the place of her rebirth.”

 

Vô Ðộc hỏi: Thân mẫu của Bồ Tát tên họ là gì?”—Poisonless asked: “What was the Bodhisttva’s mother’s name and clan?”

 

Thánh nữ đáp: Thân phụ và thân mẫu tôi đều thuộc dòng dõi Bà La môn. Thân phụ tôi là Thi La Thiện Kiến. Thân mẫu tôi là Duyệt Ðế Lợi.”—The holy woman replied: “My parents were both Barhmans; my father’s name was sila Sudarshana, my mother name was Yueh-Ti-Li.”

 

Vô Ðộc chấp tay thưa Thánh nữ: “Xin Thánh nữ hãy trở về, chớ đem lòng thương nhớ buồn rầu quá lắm nữa. Tội nhân Duyệt Ðế Lợi được sanh lên cõi trời đã ba ngày nay rồi. Nghe nói nhờ con gái của người có lòng hiếu thuận, vì mẹ mà sắm sửa lễ vật, tu tạo phước lành, cúng dường chùa tháp, thờ Ðức Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai. Chẳng phải chỉ riêng thân mẫu của Bồ Tát đặng thoát khỏi địa ngục, mà ngày đó, những tội nhân vô gián khác cũng đều được vui vẻ, đồng đặng thác sanh cả.”—Poisonless placed his palms together respectfully and told the holy woman: “Please Holy One, quickly return to your origina dwelling, do not be worried or sorrowful, for the offense-laden woman Yueh-Ti-Li was born in the heavens three days ago. It is said that she received the benefit of the meritorious deeds performed and the blessings cultivated by her filial child who, for her mother’s sake, practiced giving at the stupas and temples of Enlightenment-Flower Samadhi Self-Mastery King ‘Thus Come One.’ Not only has the Bodhisattva’s mother obtained release from the hell but also, all those people whose offenses destined them for the Avichi, on that day attained to bliss and were reborn together with her.”   

 

Nói xong, quỷ vương chắp tay chào Thánh nữ mà cáo lui—When the ghost king had finished speaking, he withdrew with palms respectfully joined.

 

Bấy giờ Thánh nữ dường như chiêm bao chợt tỉnh, rõ biết việc đó rồi, bèn đối trước tượng của Ðức Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai mà phát thệ nguyện rằng: “Tôi nguyện từ nay nhẫn đến đời vị lai những chúng sanh mắc phải tội khổ, thì tôi lập ra nhiều phương chước làm cho họ được giải thoát.”—The Brahman woman quickly returned as if from a dream understood what had happened, and then swore a deep vow before the stupas and images of Enlightenment-Flower Samadhi Self-Mastery King Thus Come One saying, "I vow to establish many expedient devices for the sake of living beings due to suffer for offenses. Until the end of future aeons, I shall cause them to obtain liberation.”

 

Ðức Phật bảo ngài Văn Thù Sư Lợi: “Quỷ vương Vô Ðộc trước đó nay chính là ông Tài Thủ Bồ Tát. Còn Thánh Nữ Bà La Môn đó, nay là Ðịa Tạng Bồ Tát vậy.”—The Buddha told Manjusri: “The Ghost King Poisonless is the present Bodhisattva Foremost Wealth. The Brahman woman is now Earth Store Bodhisattva. 

 

 

CHƯƠNG HAI—CHAPTER TWO

HÓA THAÂN CÙNG QUYẾN THUỘC—THE ASSEMBLING OF THE DIVISION BODIES

 

Lúc đó phân thân Ðịa Tạng Bồ Tát ở các nơi có địa ngục trăm ngàn muôn ức bất khả tư, bất khả nghị, bất khả lượng, bất khả thuyết, vô lượng vô số thế giới đều đến hội họp tại cung trời Ðao Lợi. Do nhờ thần lực của Như Lai, phân thân đó hiệp với những chúng đã được giải thoát ra khỏi chốn nghiệp đạo ở mười phương, cũng đều đông đến số ngàn muôn ức na do tha, đồng cầm hương hoa đến cúng dường Phật. Những chúng cùng đến với phân thân đó, thảy đều nhờ Ðịa Tạng Bồ Tát giáo hóa làm cho trụ nơi đạo Vô Thượng Chánh đẳng Chánh giác trọn không còn thối chuyển. Những chúng đó từ kiếp lâu xa đến nay trôi lăn trong vòng sanh tử ở trong sáu đường, chịu những điều khổ sở  không có lúc nào tạm ngừng dứt, nhờ có lòng từ bi lớn và thệ nguyện sâu dày của Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát, nên tất cả đều chứng được đạo quả. Ðại chúng đó khi đã đến cung trời Ðao Lợi, lòng họ vui mừng hớn hở, chiêm ngưỡng Ðức Như Lai mắt nhìn mãi không rời—At that time the division bodies of Earth Store Bodhisattva came and assembled in the Palace of the Trayastrimsha Heaven from a hundred thousand tens of thousand of millions of inconceivable, unutterable, immeasurable, ineffable, limitless asamkhyeyas of worlds, from all the places where there are hells. Because of the spiritual power of the ‘Thus Come One,’ each came from his own direction together with thousands of ten thousands of millions of nayutas of those who had obtained liberation from the paths of karma. All came holding incense and flowers as offerings to the Buddha. Because of the teachings of Earth Store Bodhisattva, all those who came were irreversible from Anuttara-samyak-sambodhi, even though for  long kalpas they had been wandering in birth and death, undergoing suffering within the six paths without even temporary respite. Because of Earth Store Bodhisattva’s great compassion and deep vows, however, each had attained certification to the fruit. When they came to the Trayastrimsha Heaven, their hearts jumped for joy. They gazed at the ‘Thus Come One,’ their eyes not leaving for a moment.

 

Bấy giờ Thế Tôn giơ tay sắc vàng xoa đảnh của hóa thân Ðịa Tạng Bồ Tát trong trăm ngàn muôn ức bất khả tư, bất khả nghị, bất khả lượng, bất khả thuyết, vô lượng vô số thế giới, mà dạy rằng: “Ta ở trong đời ác ngũ trược giáo hóa những chúng sanh cang cường như thế, làm cho họ điều phục bỏ tà về chánh; nhưng trong mười phần vẫn còn một hai phần chúng sanh quen theo tánh ác. Muốn độ họ, ta cũng phân ngàn trăm ức thân lập ra nhiều phương chước—At that time, the World Honored One stretched forth his golden-colored arm and rubbed the crowns of all the division bodies of Earth Store Bodhisattva Mahasattva, from the hundreds of thousands of millions of inconceivable, immeasurable, ineffable, limitless asamkhyeyas of worlds, and said, “I teach and transform obstinate living beings such as these  within the evil worlds of the five turbidities, causing their minds to be regulated and subdued, to renounce the deviant and return to the proper. One or two of ten, however, have bad habits remaining, and I also divide into hundreds of thousands of millions of bodies in order to establish numerous expedient devices for them.”

 

Trong chúng sanh đó, hoặc có người căn tánh  sáng lẹ nghe pháp của Ta thời liền tín nhận. Hoặc có người phải ân cần khuyên bảo mới thành tựu, được thiện quả. Hoặc có kẻ vì tội nghiệp quá nặng nên chẳng đem lòng kính tin ngưỡng mộ—Perhaps there are those of keen and then accept with faith, or perhaps there are others of good fruits who are energetically exhorted to accomplishment. Yet, others are dark and dull and must long taught and transformed in order to effect their return, while others whose karma is heavy do not give  rise to respect.    

 

Ta phân ra nhiều thân độ thoát những hạng chúng sanh mỗi mỗi sai khác như thế. Hoặc hiện ra thân trai, hoặc hiện ra thân gái, hoặc hiện ra thân Trời, Rồng, hoặc hiện ra thân Quỷ, Thần, hoặc hiện ra rừng, núi, sông, ngòi, ao, rạch, suối, làm cho lợi ích mọi người, để rồi độ họ được giải thoát—My division bodies take across and liberate all of these manifold kinds of living beings. Perhaps, I appear in a male person or that of a woman or in the body of a god or dragon or that of a spirit or ghost. Or, I may appear as mountains, forests, streams, and springs, as rivers, lakes, fountains, or wells in order to benefit people. All of these may save beings.

 

Hoặc hiện ra thân Thiên Ðế, hoặc hiện ra thân trời Phạm Vương, hoặc ra thân vua Chuyển Luân, hoặc hiện ra thân cư sĩ, hoặc ra thân Tể Phụ, hoặc ra thân các hàng quan thuộc, hoặc hiện ra thân Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di. Nhẫn đến hiện ra những thân Thanh Văn, La Hán, Bích Chi Phật và Bồ Tát để hóa độ chúng sanh, chớ chẳng phải chỉ có thân Phật hiện ra trước đại chúng thôi đâu!—Or I may appear in the body of a Heaven King, a King of a country, a prime minister, an official, a Bhikshu, a Bhikshuni, an Upasaka, an Upasika, and so forth including the body of a Sound Hearer, an Arhat, a Pratyeka-buhhda, or a Bodhisattva, in order to teach and rescue beings. It is not only the body of a Buddha which appears before them.

Ðịa Tạng! Ông xem ta đã trải qua bao nhiêu số kiếp nhọc nhằn độ thoát  những chúng sanh cang cường đầy tội khổ khó khai hóa như thế. Ngoài ra những kẻ chưa điều phục điều phục được, thời phải theo nghiệp báo. Nếu khi họ có bị đọa vào đường dữ, chịu nhiều sự thống khổ, thời ông nên nghĩ nhớ Ta ở cung trời Ðao Lợi ân cần phó chúc đây mà gắng độ chúng sanh, làm cho chúng sanh trong cõi Ta Bà nầy đến lúc Phật Di Lặc ra đời, đều đặng giải thoát, khỏi hẳn các điều khổ, gặp Phật, được Phật thọ ký—You see that I have toiled for many kalpas and endured many sufferings in order to liberate and take across those obstinate living beings who are difficult to transform and who suffer for their offenses. Those among them who have not yet been subdued, undergo retributions according to their karma. If they should fall into the evil destinies and endure a time of  great suffering, you should remember my attentive and diligent charge to you  here in the palace of the Tryastrimsha Heaven, to cause all living beings in the Saha World, until Maitreya’s appearance in the world, to attain liberation, to leave suffering forever, and to encounter Buddhas and receive their predictions.

 

Bấy giờ, những hóa thân Ðịa Tạng Bồ Tát ở các thế giới hiệp chung lại một hình, rơi lệ thương cảm mà bạch cùng Ðức Phật rằng: “Từ số kiếp lâu xa đến nay, con nhờ Ðức Thế Tôn tiếp độ dắt dìu làm cho con được thần lực chẳng thể nghĩ bàn, đầy đủ trí huệ rộng lớn. Con phân hiện thân hình ra ở cùng khắp trăm ngàn ức hằng hà sa số thế giới. Trong mỗi thế giới hiện trăm ngàn muôn ức thân. Mỗi thân đó hóa độ trăm ngàn muôn ức người làm cho quy kính ngôi Tam Bảo, khỏi hẳn vòng sanh tử, hưởng vui Niết Bàn—At that time the division bodies of Earth Store Bodhisattva from all the worlds returned together to a single from which,  weeping with pity, said to the Buddha, “Throughout long aeons I have received the Buddha’s guidance, which has caused me to obtain inconceivable spiritual power and great wisdom. My division bodies fill as many worlds as there are grains of sand in hundreds of thousands of ten thousands of millions of Ganges River. In each of those worlds, I transform myself into ten of thousands of millions of bodies, each of which takes across  hundreds of thousands of ten thousands of millions of people and causes them to respect and take refuge with the Triple Jewel, eternally leave birth and death, and reach the bliss of Nirvana.

 

Những chúng sanh nào ở nơi Phật pháp chỉ làm một việc lành bằng một sợi lông, một giọt nước, một hạt cát, một hạt bụi nhỏ, hoặc chỉ bằng chừng mảy lông tóc, con đều độ thoát lần lần, làm cho họ được lợi ích lớn—Even if their good deeds within the Buddhadharma are as little as a hair, a drop, a grain of sand, a mote of dust or the tip of a hair, I shall gradually cause them to be liberated and to attain great benefit.

 

Cúi mong đức Như Lai chớ vì những chúng sanh ác nghiệp trong đời sau mà sanh lòng lo lắng!  Ngài Ðịa Tạng Bồ tát bạch cùng Ðức Phật ba lần như thế—In this way, he addressed the Buddha three times, “I only hope that the World Honored One will not be concerned about future living beings with evil karma.

 

Lúc ấy Ðức Phật khen ngài Ðịa Tạng Bồ Tát rằng: “Hay thay! Hay thay! Ta hộ trợ cho ông được toại nguyện ! Từ số kiếp lâu xa đến nay thường phát nguyện rộng lớn, cứu độ tất cả chúng sanh rồi, thời ông liền chứng quả Bồ Ðề—At that time, the Buddha praised Earth Store Bodhisattva and said, “Good indeed, good indeed, I shall help you in what you rejoice in doing so that you will be able to be successful in the completion of the great vows which you have madesince distant kalpas past. Just as you finish vastly taking living beings across, you will instantly be certified as having attained Bodhi.

 

CHƯƠNG BA—CHAPTER THREE

PHẨM QUÁN CHÚNG SANH NGHIỆP DUYÊN—CONTEMPLATING THE KARMIC CONDITIONS OF LIVING BEINGS

 

Lúc đó Ðức Phật Mẫu là bà Ma Gia Phu Nhơn chấp tay cung kính mà hỏi Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát: “Thánh Giả! Chúng sanh trong cõi Diêm Phù Ðề tạo nghiệp sai khác, cảm thọ quả báo ra thế nào?”—At that time, the Buddha’s mother, the Lady Maya, placed her palms together respectfully and said to Earth Store Bodhisattva: “Holy One, the karma created by the living beings of Jambudpvipa differs. What are the retributions that they undergo in response.”

 

Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát đáp: “Trong ngàn muôn thế giới cho đến quốc độ, hoặc nơi   có địa ngục, nơi không có địa ngục, hoặc nơi  có hàng nữ nhơn, nơi không có hàng nữ nhơn, hoặc nơi có Phật pháp, nơi không có phật pháp, nhẫn đến bực Thanh Văn, và Bích Chi Phật, vân vân cũng sai khác như thế, chớ chẳng phải riêng tội báo nơi địa ngục sai khác thôi đâu!—Earth Store replied: “In an immeasurable (innumerable) number of worlds and lands, whether with or without hells, with or without women, the Buddhadharma, Sound-Hearers, Pratyeka-buddhas, and so forth, the retributions of hell differ.”

 

Bà Ma Gia lại bạch cùng Bồ Tát rằng: “Tôi muốn nghe tội báo trong cõi Diêm Phù Ðề chiêu cảm lấy ác đạo.”—The Lady Maya again said to the Bodhisattva, “I wish to hear of the evil paths that are the retributions for offenses in Jambudvipa.”

Ngài Ðịa Tạng đáp: “Thánh Mẫu! Trông mong ngài lắng nghe nhận lấy, tôi sẽ lược nói việc đó.”—Earth Store Bodhisattva replied: “Holy Mother! Please listen and I will explain in general terms.”

 

Thánh Mẫu bạch rằng: “Xin Thánh Giả nói cho.”—The Buddha’s mother answered: “I hope that you, Holy One, will do so.”

 

Bấy giờ Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát thưa Thánh Mẫu: “Danh hiệu của những tội báo trong cõi Nam Diêm Phù Ðề như dưới đây—Earth Store Bodhisattva said to the Holy Mother, “These are the names of the retributions for offenses in Southern Jambuvipa:

·         Như có chúng sanh chẳng hiếu thảo với cha mẹ, cho đến giết hại cha mẹ, kẻ đó phải đọa vào Vô Gián địa ngục mãi đến ngàn muôn ức kiếp không lúc nào mong ra khỏi được—If there are living beings who are not filial to their parents, even to extent of harming or killing them, they will fall into the Uninterrupted Hell where, for thousands of ten thousands of millions of kalpas, they will seek escape in vain.

·         Như có chúng sanh nào có lòng ác, làm thân Phật bị thương chảy máu, khinh chê ngôi Tam Bảo, chẳng kính kinh điển, cũng phải đọa vào Vô Gián địa ngục, trong ngàn muôn ức kiếp không khi nào ra khỏi được—If there are living beings who shed the Buddha’s blood, who slander the Triple Jewel, and who do not respect and venerate Sutras, they also will fall into the Uninterrupted Hell where, for thousands of ten thousands of millions of kalpas, they will seek escape in vain.

·         Hoặc có chúng sanh xâm tổn của thường trụ, ô phạm Tăng Ni, hoặc tư tình làm sự dâm loạn  trong chốn chùa chiền, hoặc giết, hoặc hại, vân vân. Những chúng sanh đó phải đọa vào Vô Gián địa ngục trong ngàn muôn ức kiếp không lúc nào ra khỏi được—If there are living beings who usurp or damage the property of the permanently dwelling, who defile Bhikshus or Bhikshunis, or who commit sexual acts within the Sangharama, or kill or harm beings there, they and those like them will fall into the Uninterrupted Hell where, for thousands of ten thousands of millions of kalpas, they will escape in vain.

·         Như có chúng sanh giả làm Thầy Sa Môn, kỳ thật tâm chẳng phải sa Môn, lạm dụng của thường trụ, trái phạm giới luật, gạt gẫm hàng bạch y, tạo nhiều điều tội ác. Hạng người như thế phải đọa vào Vô Gián địa ngục, trong ngàn muôn ức kiếp không lúc nào mong ra khỏi được—If there are living beings who pretend to be Shramanas but whose hearts are not those of Shramanas, who make destructive use of the permanently dwelling, who swindle and deceive the white-robed, and who turn their backs on the precepts, doing all manner of evil acts, they and those like them will fall into the Uninterrupted Hell where, for thousands of ten thousands of millions of kalpas, they will seek escape in vain.

·         Hoặc có chúng sanh trộm cắp những tài vật lúa gạo, đồ ăn uống, y phục, vân vân của thường trụ, cho đến không cho mà lấy một vật, kẻ đó phải đọa vào Vô Gián địa ngục trong ngàn muôn ức kiếp không lúc nào mong ra khỏi được—If there are living beings who steal the wealth and property of the Permanently Dwelling, its grain, food, drink, and clothing or who take even a single article which has not been given to them, they will fall into the Uninterrupted Hell where, for thousands of ten thousands of millions of kalpas, they will seek escape in vain.

·         Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát thưa: “Thánh Mẫu! Nếu có  chúng sanh nào phạm những tội như trên thời phải đọa vào đia ngục ngũ vô gián, cầu tạm ngừng sự đau khổ chừng khoảng một niệm cũng không được—Earth Store Bodhisattva continued: “Holy Mother, If living beings commit such offenses, they will fall into the Five Ways Uninterrupted Hell, and although they seek a temporary stopping of their suffering, it will not stop even for the space of a thought.

Bà Ma Gia lại bạch: “Thế nào gọi là  Vô gián địa ngục?”—The Lady Maya further asked Earth Store Bodhisattva, “Why is it called the Uninterrupted Hell?”

 

Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát thưa: “Thánh Mẫu! Bao nhiêu địa ngục ở trong núi Thiết, lớn có 18 chỗ, thứ kế đó năm trăm chỗ danh hiệu đều riêng khác nhau, thứ kế lại có ngàn trăm danh hiệu cũng đều riêng khác nhau. Nói về địa ngục Vô Gián đó, giáp vòng ngục thành hơn tám muôn dặm, thành đó thuần bằng sắt cáo đến một muôn dặm. Lửa cháy trên thành không có chỗ nào hở trống. Trong ngục thành đó có các nhà ngục liên tiếp nhau đều có danh hiệu sai khác. Riêng có một sở ngục tên là Vô Gián. Ngục nầy chu vi  một muôn tám ngàn dặm, tường ngục cao một ngàn dặm, toàn bằng sắt cả. Lửa cháy hực hở từ trên xuống dưới. Trên tường ngục rắn sắt, chó sắt, phun lửa đuổi nhau chạy bên nầy sang bên kia—Earth Store replied: “Holy Mother, the hells are all within the Great Iron Ring Mountains. There are 18 great hells and 500 secondary ones, their names  all different. In ddition, there are another hundred thousand, also with distinct names. The wall surrounding the Uninterrupted Hell is over eighty thousand miles in circumference, made entirely of iron . It is thousand miles in height, and topped by mass of fire with few breaks. Inside the wall of that hell are many interconnected hells, each with its own name. There is just one hell which is properly called Uninterrupted. Its circumference is eighteen thousand miles and its solid iron wall is a thousand miles high, surmounted by a fire the plunges toward the base and is met by a fire at the bottom that leaps upward. Iron snakes and dogs spewing fire gallop east and west atop that wall.

 

Trong ngục có giường rộng khắp muôn dặm. Một người thọ tội thời tự thấy thân mình nằm đầy chật cả giường, đến ngàn muôn người thọ tội cũng đều tự thấy thân của mình nằm chật cả trên giường. Ðó là do vì  những tội nghiệp đã tạo ra nó cảm vời như thế—In the midst of that hell is a bed that extends for ten thousand miles. When one person undergoes punishment, that person sees his or her own body extended across and completely filling the bed; and yet when ten million people undergo punishment, each sees his or her own body completely filling the bed. Such are the retributions for various evil deeds.

 

Lại những người tội chịu đủ sự khổ sở. Trăm ngàn quỷ dạ xoa cùng với loài ác quỷ, răng nanh bén nhọn dường gươm, cặp mắt chói sáng như ánh chớp, móng tay cứng như đồng, móc ruột bằm chặt. Lại có quỷ dạ xoa khác cầm chỉa lớn bằng sắt đâm vào mình tội nhân, hoặc đâm  trúng miệng mũi, hoặc đâm trúng bụng lưng, vân vân, rồi ném lên trên không, lấy chỉa hứng lấy, rồi để lại trên giường. Lại có diều hâu sắt mổ mắt tội nhân. Lại có rắn sắt cắn đầu tội nhân. Nơi lóng đốt khắp trong thân thể đều lấy đinh dài đóng xuống giường, kéo lưỡi ra rồi cày bừa trên đó, lôi kéo tội nhân, nước đồng đổ vào miệng, dây sắt nóng đỏ quấn lấy thân tội nhân, một ngày một đêm, muôn lần chết muôn lần sống lại. Do vì tội nghiệp mà cảm lấy như thế, trải qua ức kiếp không lúc nào mong ra khỏi được—Moreover, the offenders undergo sufferings to the utmost. A hundred thousand yakshas, as well as evil ghosts with swordlike teeth and eyes like lightning, drag and pull them with brass-clawed hands. Moreover, there are yakshas who brandish great iron halberds, which they pass through the offenders’ bodies, either  through their mouths and noses, or through their belies and backs. They toss them into space, turn them over and pull them back ; or else they place them on the bed. There are also iron eagles that peck at the offenders’ eyes, and iron serpents that encircle their necks. Long nails are driven into all their limbs. Their tongues are pulled out and plowed through. Their guts are pulled out, sawed, and chopped apart. Molten brass is poured into their mouths, and their bodies are bound with hot iron. Such are their karmic retributions throughout ten thousand deaths and as many births. They pass through millions of aeons, seeking for escape in vain.

 

Lúc thế giới nầy hư hoại thời sanh nhờ qua địa ngục ở thế giới khác. Lúc thế giới khác đó hư hoại thời lại sanh vào cõi khác nữa. Lúc cõi khác đó hư hoại thời cũng xoay vần sanh vào cõi khác. Ðến khi thế giới nầy thành xong, thời sanh trở về thế giới nầy. Những sự tội báo trong ngục Vô Gián như thế đó—When this world decays, they will be sent to be reborn in another world; and when that world is annihilated, they will pass in turn to those in order directions. As those worlds in other directions, too, decay, they are sent back and forth, so that after this world comes into being again, they return here. Such are the phenomena of uninterrupted retribution for offenses.

 

Lại địa ngục đó do có năm điều nghiệp cảm, nên kêu là Vô Gián. Năm điều đó là—Moreover, it is called Uninterrupted due to five retributions for karma. What are they?:

1)       Tội nhân trong đó chịu khổ ngày lẫn đêm, cho trải qua số kiếp không lúc nào ngừng nghỉ, nên gọi là Vô Gián—Punishment is undergone day and night throughout kalpas, and there is no time of respite. Therefore, it is called Uninterrupted Hell.

2)       Một tội nhân đầy chật cả ngục, nhiều tội nhân mỗi mỗi thân cũng đều đầy chật khắp cả ngục, nên gọi là Vô Gián—One person fills it, yet many people also fill it. Therefore, it is called Uninterrupted.

3)       Những khí cụ để hành hình tội nhân như chỉa ba, gậy, diều hâu, rắn, sói, chó, cối giả, cối xay, cưa, đục, dao mác, chảo dầu sôi, lước sắt, dây sắt, lừa sắt, ngựa sắt, da sống niền đầu, nước sắt nóng rưới thân, đói thời ăn hoàn sắt nóng, khát thời uống nước sắt sôi. Từ năm trọn kiếp, đến vô số kiếp những sự khổ sở nối nhau luôn không ngừng nghỉ một giây, nên gọi là Vô Gián—The implements of punishment are forks, clubs, eagles, serpents, wolves, and dogs, which pound, grind, saw, drill, chisel, cut and chop; boiling liquids, iron nets, iron robes, iron asses, and iron hoses that flay one alive, bind one’s head in rawhide, and pour  hot iron over one’s body, meals of iron pelletss and drinks of iron fluids. Throughout many nayutas of kalpas such suffering continues without interruption. Therefore, it is called Uninterrupted.

4)       Không luận là trai hay gái, Mường, Mán, mọi rợ, già trẻ, sang hèn, hoặc là rồng, là trời, hoặc là thần, là quỷ; hễ gây tội ác theo đó mà cảm lấy, tất cả đều đồng chịu khổ, nên gọi là Vô Gián—Whether a man, a woman, a savage, or someone old or young, honorable or lowly, a dragon or a spirit, a god or ghost, everyone must undergo retribution for the offenses he or she has committed. Therefore, it is called Uninterrupted.

5)       Nếu người nào bị đọa vào địa ngục đó, thời từ khi mới vào cho đến trăm ngàn kiếp mỗi một ngày  đêm muôn lần chết, muôn lần sống lại, muốn cầu tạm ngừng chừng khoảng một niệm cũng không được, trừ khi tội nghiệp tiêu hết mới được thọ sanh. Do vì lẽ liên miên mãi nên gọi là Vô Gián—If one falls into this hell, from the time  of entry one undergoes ten thousand deaths and as many rebirths each day and night throughout a hundred thousand kalpas. One may seek relief for the space of a thought, but even such a brief pause does not happen. Only when one’s karma is exhausted can one attain rebirth. Because of this continuity, it is called Uninterrupted.

 

Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát thưa Thánh Mẫu: “Nói sơ lược về địa ngục Vô Gián như thế. Nếu nói rộng ra thời tên của những khí cụ để hành tội cùng những sự thống khổ trong địa ngục đó, dầu suốt một kiếp cũng không thể nào nói cho hết được.”—Earth Store Bodhisattva said to the Holy Mother, “This is a general description of the Uninterrupted Hell. If I were to speak  extensively about the names of all the implements of punishment in the hells, and all the sufferings there, I could not finish speaking in an entire kalpa.”

 

Bà Ma Gia Phu Nhơn nghe Ngài Ðịa Tạng bồ Tát nói xong, không xiết lo rầu. Bà chấp tay đảnh lễ Bồ tát mà lui ra—After hearing this, the Lady Maya placed her palms together sorrowfully, made obeisance and withdrew. 

 

 

CHƯƠNG THỨ TƯ—CHAPTER FOUR

NGHIỆP CẢM CỦA CHÚNG SANH NƠI CÕI DIÊM PHÙ ÐỀ—KARMIC RETRIBUTIONS OF LIVING BEINGS OF JAMBUDVIPA

 

Lúc đó Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát bạch cùng Ðức Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Con nương sức oai thần của Ðức Như Lai, nên chia thân hình nầây ở khắp trăm ngàn muôn ức thế giới, để cứu vớt tất cả chúng sanh bị nghiệp báo. Nếu không nhờ sức đại từ của Ðức Như Lai, thời chẳng có thể biến hóa ra được như thế. Nay con lại được Như Lai phó chúc ‘từ nay đến khi ngài A Dật Ða thành Phật, làm cho chúng sanh trong sáu đường đều được giải thoát.’ Xin vâng! Bạch Ðức Thế Tôn! Xin Ðức Thế Tôn chớ lo!”—At that time Earth Store Bodhisattva said to the Buddha: “World Honored One! Because I have received the awesome spiritual power of the Buddha, the ‘Thus Come One,’ I divide my body and rescue living beings who are undergoing karmic retributions everywhere throughout hundreds of thousands of ten thousands of millions of worlds. If it were not for the great compassionate strength of the ‘Thus Come One,’ I would be unable to perform such changes and transformations. Now, I further receive the World Honored One’s entrustment: Until Ajita has become a Buddha, I will cause all living beings in the six paths to attain liberation. Yes, it shall be so, World Honored One; do not be concerned.”

 

Bấy giờ Ðức Phật bảo ngài Ðịa Tạng Bồ Tát rằng: “Những chúng sanh  mà chưa được giải thoát, tánh thức của họ không định; hễ quen làm dữ thì kết thành nghiệp báo dữ, còn quen làm lành thời kết thành quả báo lành. Làm lành cùng làm dữ tùy theo cảnh duyên mà sanh ra, lăn mãi trong năm đường không lúc nào tạm ngừng ngớt, mê lầm chướng nạn trải đến kiếp số nhiều như vi trần. Ví như loài cá bơi lội trong lưới theo dòng nước chảy, thoạt hoặc tạm được ra, rồi lại mắc vào lưới. Vì thế nên ta phải lo nghĩ đến những chúng sanh đó. Ðời trước ông trót đã lập nguyện trải qua nhiều kiếp phát thệ rộng lớn, độ hết cả hàng chúng sanh bị tội khổ, thời Ta còn lo gì!”—At that time the Buddha told Earth Store Bodhisattva: “Living beings who have not yet obtained liberation have unfixed natures and consciousnesses. Their evil habits will reap karma, while their good habits will reap a corresponding fruit. Their good  or evil acts arise in accordance with states, and they turn in the five paths without a moment’s rest. They pass through kalpas as numerous as motes of dust, confused, deluded, obstructed, and afflicted by difficulties, like fish swimming through nets that have been put in a stream. They may slip free of them and so temporarily escape, but then, they again are caught in the nets. It is for beings such as these that I would be concerned; but since you are completing the vows you have made in the past, and for many kalpas have renewed these mighty oaths to take across vast numbers of such offenders, I have no further cause for worry.”

Khi Ðức Phật dạy lời như thế xong, trong pháp hội có một vị đại Bồ Tát hiệu là Ðịnh Tự Tại Vương ra bạch cùng đức Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Từ nhiều kiếp đến nay, Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát thệ nguyện gì, mà nay được đức Thế Tôn ân cần khen ngợi như thế? Cúi mong đức Thế Tôn lược nói cho.”—When this was said, there was in the assembly, a Bodhisattva Mahasattva named Samadhi Self-Mastery King, who said to the Buddha: “World Honored One! What vows has Earth Store Bodhisattva made during each of these many kalpas that he now receives the World Honored One’s special praise? Please, World Honored One, briefly speak about this.”

 

Bấy giờ đức Thế Tôn bảo ngài Ðịnh Tự Tại Vương Bồ Tát: Lắng nghe! Lắng nghe! Phải khéo suy xét đó, Ta sẽ vì ông mà giải bày rõ ràng—At that time the World Honored One said to Samadhi Self-Mastery King: “Listen attentively! Listen attentively and consider this well. I shall now explain the details for you.”

 

Vô lượng vô số na do tha bất khả thuyết kiếp về thuở trước, lúc đó, có đức Phật ra đời hiệu là Nhứt Thiết Trí Thành Tựu Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Ðức Phật đó thọ sáu muôn kiếp. Khi ngài chưa xuất gia, thời ngài làm vua một nước nhỏ kia, kết bạn cùng với vua nước lân cận; hai vua đồng thực hành mười hạnh lành làm lợi ích cho nhân dân. Nhân dân trong nước lân cận đó phần nhiều tạo những việc ác. Hai vua cùng nhau bàn tính tìm những phương chước để dắt dìu dân chúng—Once, limitless asamkhyeyas of nayutas of ineffably many kalpas ago, there was a Buddha named All-Knowledge-Accomplished Thus Come One, One Worthy of Offerings, One of Proper and Pervasive Knowledge, One Perfect in Clarity and Conduct, Well-Gone One, Unsurpassed Knight Who Understands the World, Regulating and Subduing Hero, Teacher of Gods and Humans, a Buddha, World Honored One. That Buddha’s lifespan was sixty thousand kalpas. Before leaving home, he had been the king of a small country and had been friendly with the king of a neighboring country with whom he practiced the ten wholesome acts and benefitted living beings. Because the citizens of these two neighboring countries did many evil acts, the two kings agreed to devise large-scale expedient devices for them. 

 

Một ông phát nguyện: ‘Tôi nguyện sớm thành Phật sẽ độ dân chúng ấy làm cho đều được giải thoát không còn thừa.’—One of the kings vow: ‘I shall accomplish the Buddha Way quickly and then without exception, take these people across.’

 

Một ông phát nguyện: ‘Như tôi chẳng trước độ những kẻ tội khổ làm cho đều được an vui chứng quả Bồ Ðề, thời tôi nguyện chưa chịu thành Phật’—The other king vowed: ‘If I do not first take across all those who suffer for their offenses cause them to be peaceful and happy and to attain Bodhi, I shall not accomplish Buddhahood." 

 

Ðức Phật bảo ngài Ðịnh Tự Tại Vương Bồ Tát rằng: “Ông vua phát nguyện sớm thành Phật đó chính là đức Nhứt Thiết Trí Thành Tựu Như Lai. Còn ông vua phát nguyện độ chưa hết những chúng sanh tội khổ thời chưa nguyện thành Phật đó, chính là ngài Ðịa Tạng Bồ Tát đây vậy.”—The Buddha told the Bodhisattva Samadhi Self-Mastery King: “The king who vowed to become a Buddha quickly is All-Knowledge-Accomplished Thus Come One. The king who vowed not to become a Buddha until he had taken across all beings who suffer for offenses, is named Earth Store Bodhisattva.”

 

Lại vô số kiếp về thuở trước, có đức Phật ra đời, hiệu là Liên Hoa Mục Như Lai. Ðức Phật đó thọ bốn mươi kiếp. Trong thời mạt pháp, có một vị La Hán phước đức cứu độ chúng sanh. Nhơn vì đi tuần giáo hóa mọi người, La Hán gặp một người nữ tên là Quang Mục, nàng nầy sắm sửa đồ ăn cúng dường La Hán. La Hán thọ cúng rồi hỏi: “Nàng muốn những gì?”—Moreover, limitless asamkhyeyas kalpas ago a Buddha named Pure-Lotus-Eyes Thus Come One appeared in the world. His lifespan was forty kalpas. During his Dharma-Ending Age, an Arhat who planted blessings for and took across living beings. Because he taught them and transformed in succession, he met a woman named Bright Eyes who made a meal-offering to him. The Arhat asked: “What is your wish?”

 

Quang Mục thưa rằng: Ngày thân mẫu tôi khuất, tôi làm việc phước thiện để nhờ đó mà cứu vớt thân mẫu tôi, chẳng rõ thân mẫu sanh vào đường nào?”—Bright Eyes replied: “On the day of my mother’s death, I performed meritorious deeds for her rescue, but I do not yet know in what path she has been born.”

 

La Hán nghe nói cảm thương bèn nhập định quan sát, thời thấy bà mẹ của Quang Mục đọa vào chốn địa ngục rất là khổ sở. La Hán hỏi Quang Mục rằng: “Thân mẫu ngươi lúc sanh tiền đã làm hạnh nghiệp gì, mà nay phải đọa vào chốn địa ngục rất khổ sở như thế?”—Out of pity for her, the Arhat entered into samadhi to contemplate, and saw that Bright Eyes’ mother had fallen into an evil path where she was undergoing extreme suffering. The Arhat asked: “Bright Eyes, when your mother was alive, what deeds did she do that she should now be undergoing such extremely great suffering in an evil path?”

 

Quang Mục thưa rằng: “Ngày còn sống, thân mẫu tôi chỉ ưa ăn thịt loài cá trạnh, phần nhiều là hay ăn cá con và trạnh con, hoặc chiên, hoặc nấu, tha hồ mà ăn cho thỏa mãn. Nếu tính đếm số cá trạnh của người đã ăn thời đến hơn ngàn muôn. Xin tôn giả thương xót chỉ dạy phải làm cách nào để cứu thân mẫu tôi?”—Bright Eyes replied: “As to my mother’s habits, she enjoyed nothing better than eating fish, turtles and the like. She particularly relished their fried or boiled-roe, and because she was fond of eating, she took many thousands of ten thousands of lives. Oh! Venerable One! Be compassionate and take pity. How can she be saved?"

 

La Hán xót thương bèn dạy phương chước, ngài khuyên Quang Mục rằng: “Ngươi phải đem lòng chí thành mà niệm đức Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai, và vẽ đắp hình tượng đức Phật, thời kẻ còn cùng người mất đều được phước lợi!”—The Arhat pitied Bright Eyes and so, establishing an expedient device , he exhorted her, saying: “With sincere resolve, be mindful of Pure-Lotus-Eyes Thus Come One, and also make carved and painted images of him. Both those living and those who have perished will be rewarded.”

 

Quang Mục nghe xong, liền xuất tiền của, họa tượng Phật mà thờ cúng. Nàng đem lòng cung kính, khóc than chiêm ngưỡng đảnh lễ tượng Phật. Một đêm vào lúc nửa về sáng, nàng chiêm bao thấy thân của đức Phật sắc vàng chói như núi Tu Di, đức Phật phóng ánh sáng mà bảo Quang Mục rằng: “Chẳng bao lâu đây thân mẫu ngươi sẽ thác sanh vào trong nhà của ngươi, khi vừa biết đói lạnh thời liền biết nói.”—On hearing this, Bright Eyes renounced everything she loved; afterwards she drew an image of that Buddha, and made offerings before it. Moreover, she wept sorrowfully as she respectfully gazed at and bowed to the Buddha. During the second half of the night, suddenly, as if in a dream, she saw that Buddha’s body, dazling gold in color and as large as Mount Sumeru, emitting great light. He said to Bright Eyes: “Before long your mother will be born in your household, and as she can feel hunger and cold she wil speak.”         

 

Sau đó, đứa tớ gái trong nhà sanh một đứa con trai, chưa đầy ba ngày biết nói. Trẻ đó buồn khóc mà nói với Quang Mục rằng: “Nghiệp duyên trong vòng sanh tử phải tự lãnh lấy quả báo. Tôi là mẹ của người, lâu nay ở chốn tối tăm. Từ khi vĩnh biệt người, tôi phải đọa vào đại địa ngục. Nhờ phước lực của người, nên nay được thọ sanh làm kẻ hạ tiện, lại thêm số mạng ngắn ngủi, năm mười ba tuổi đây sẽ bị đọa vào địa ngục nữa. Người có phương thế gì làm cho tôi được thoát khỏi nổi khổ sở?”—Shortly thereafter, a maidservant in the house bore a son. Before three days had passed, he spoke. Lowering his head and weeping mournfully, he said to Bright Eyes: “The karmic situation of death is such that one must undergo retributions for one’s own deeds. I am your mother and have been in darkness for a long time. Since leaving you, I have repeatedly fallen into the great hells. As a result of receiving the power of your blessings, I have been able to be reborn but only as a person of low class. My lifespan, moreover, will be short, and at the age of thirteen, I will fall into an evil path again. Do you not have some plan to effect my liberation?”

 

Nghe đứa trẻ nói, Quang Mục biết chắc là mẹ mình. Nàng nghẹn ngào khóc lóc mà nói với đứa trẻ rằng: “Ðã là mẹ của tôi, thời phải tự biết tội của mình, đã gây tạo hạnh nghiệp chi mà bị đọa vào địa ngục như thế?”—When Bright Eyes heard those words, she knew without a doubt that they were her mother’s words and chocked with sobs, she said to the servant’s child: “Since you are my mother, you should know your own past offenses. What deeds did you do that caused you to fall into the evil paths?”

 

Ðứa trẻ đáp: “Do hai nghiệp, một là giết hại sanh vật và hai là chê bai mắng nhiếc, mà thọ báo khổ. Nếu không nhờ phước đức của người cứu nạn cho tôi, thời cứ theo tội nghiệp đó vẫn còn chưa được thoát khổ.”—The maidservant’s child answered: “I have undergone this retribution as a result of killing and slandering. If I had not received the blessings which you earned to rescue me from difficulty, my karma would be such that I would not yet have been released.”   

 

Quang Mục hỏi rằng: “Những việc tội báo trong địa ngục ra sao?”—Bright Eyes asked: “What happens during retribution in the hells?”

 

Ðứa trẻ đáp rằng: “Những việc tội khổ nói ra càng bất nhẫn, dầu đến trăm ngàn năm cũng không thuật hết được.”—The maidservant’s son answered: “Merely to speak of the sufferings for offenses is unbearable, and even a hundred thousand years would not suffice to describe them all.”

Quang Mục nghe xong, than khóc rơi lệ mà bạch cùng giữa hư không rằng: “Nguyện cho thân mẫu tôi khỏi hẳn địa ngục khi mãn mười ba tuổi không còn có trọng tội cùng không còn đọa vào ác đạo nữa. Xin chư Phật trong mười phương thương xót chứng minh cho tôi, vì mẹ mà tôi phát nguyện rộng lớn như vầy như thân mẫu tôi khỏi hẳn chốn tam đồ và hạng hạ tiện cùng thân gái, cùng kiếp không còn thọ những quả báo xấu đó nữa, tôi đối trước tượng của đức Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai mà phát lời nguyện rằng: ‘từ ngày nay nhẫn đến về sau trăm ngàn muôn ức kiếp, trong những thế giới nào mà các hàng chúng sanh bị tội khổ nơi địa ngục cùng tam ác đạo, tôi nguyện cứu vớt họ, làm cho tất cả đều thoát khỏi chốn ác đạo địa ngục, súc sanh, và ngạ quỷ, vân vân. Những kẻ mắc phải tội báo như thế thành Phật cả rồi, vậy sau tôi mới thành bậc Chánh Giác.”—When Bright Eyes had heard that, she wept bitterly and spoke into empty space: may my mother be eternally released from the hells, and after these thirteen years may she have no more heavy offenses, but pass out of the evil paths. Oh Buddha of the ten directions, have compassion and pity me. Hear the vast, great vow which I am making for the sake of my mother. If my mother can leave the Three Paths forever, leave being of low classes, up to and including leaving the body of a woman, and never again have to endure them, then, before the image of the Thus Come OnePure-Lotus-Eyes, I vow that from this day forth, throughout hundreds of thousands of ten thousands of millions of kalpas, wherever there are worlds, I shall respond to all living beings who are suffering in the hells and the Three Evil Paths for their offenses. I vow to rescue them and take them out the realms of the hells, hungry ghosts, animals and the like. Only after such beings who are undergoing retribution for their offenses have, without exception, become Buddhas, will I myself accomplish Right Enlightenment.”

Quang Mục phát nguyện xong, liền nghe tiếng  của đức Phật Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai dạy rằng: “Nầy Quang Mục! Nhà ngươi rất có lòng từ mẫn, vì mẹ mà phát ra lời thệ nguyện rộng lớn như thế, thật là hay lắm! Ta quan sát thấy mẹ ngươi lúc mãn mười ba tuổi, khi bỏ báo thân nầy sẽ thác sanh làm người Phạm chí sống lâu đến trăm tuổi. Sau đó vãng sanh về cõi nước Vô Ưu sống lâu đến số không tính kể. Sau rốt thành Phật độ nhiều hạng người, trời, số đông như cát sông Hằng.”—After making this vow, she heard very clearly the Thus Come One Pure-Lotus-Eyes say to her, “Bright Eyes, it is your great kindness and pity that so well enable you to make such great vows for your mother’s sake. I see that your mother will cast off this retribution after thirteen years, and will be reborn as a Brahman with a lifespan of one hundred years. After that retribution, she will be born with a lifespan of incalculable numbers of kalpas in the land of No Concern, after which she will accomplish Buddhahood and cross over vast numbers of humans and gods, as many as there are sand grains in the Ganges.”

 

Ðức Phật bảo ngài Ðịnh Tự Tại Vương Bồ Tát rằng: “Vị La Hán phước lành độ Quang Mục thuở đó, chính là Vô Tận Ý Bồ Tát. Thân mẫu Quang Mục là ngài Giải Thoát Bồ Tát. Còn Quang Mục là ngài Ðịa Tạng Bồ Tát đây vậy. Trong nhiều kiếp lâu xa về trước ngài có lòng từ mẫn, phát ra hằng hà sa số lời thệ nguyện độ khắp chúng sanh như thế.”—Sakyamuni Buddha told Samadhi Self-Mastery King, “At that time, the Arhat who planted blessings for and took across Bright Eyes, is now Inexhaustible Intention Bodhisattva. The mother of Bright Eyes is now Liberation Bodhisattva, and Bright Eyes herself is now Earth Store Bodhisattva. Throughout many long aeons, because of his kindness and pity, he has made as many vows as there are sand grains in the Ganges to rescue vast numbers of living beings.”  

 

 Trong đời sau như có chúng sanh không làm lành, mà làm ác, nhẫn đến kẻ chẳng tin luật nhơn quả, kẻ tà dâm, vọng ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu, kẻ hủy báng Ðại Thừa. Những chúng sanh có tội nghiệp như thế chắc phải bị đọa vào ác đạo. Nếu gặp được hàng thiện tri thức khuyên bảo quy-y với ngài Ðịa Tạng Bồ tát, chừng trong khoảng khảy móng tay, những chúng sanh đó liền được giải thoát khỏi báo khổ nơi ba ác đạo. Nếu người nào có thể quy-kính và chiêm ngưỡng đảnh lễ ngợi khen, cùng dâng cúng những y phục, đồ vật, ăn uống, các thứ trân bảo, vân vân. Thời người đó, trong trăm ngàn muôn ức kiếp sau, thường ở cõi trời hưởng thọ sự vui thắng diệu. Hoặc lúc phước trời hết, sanh xuống chốn nhơn gian, vẫn còn thường làm vị Ðế Vương trong trăm ngàn kiếp, lại nhớ cội nguồn nhơn quả trong các đời trước của mình—If there are men and women in the future who do not practice what is good but do what is evil, who do not believe in cause and effect, but who indulge in sexual misconduct and false speech, who practice double-tongued and harsh speech, and who slander the Great Vehicle, all living beings with karma like that will certainly fall into the evil paths. But if they encounter a good knowing advisor who, in the flick of a finger, leads them to take refuge with Earth Store Bodhisattva, all those living beings will obtain release from the retribution of the Three Evil Paths. If there are those whose acts show deference to him; who are respectful with determined minds; who gaze in worship, praise, and make offerings of flowers, incense, clothing, various gems, or food and drink to him, they will continually be born in the heavens. There they will enjoy supremely wonderful bliss for hundreds of thousands of ten thousands of millions of kalpas. If their heavenly merit is ended and they re born below in the world of human, they will still, throughout hundreds of thousands of kalpas, constantly be emperors and will be capable of remembering the causes and effects of their former lives from beginning to end.

 

Nầy Ðịnh Tự Tại Vương! Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát có sức oai thần rất lớn không thể nghĩ bàn, nhiều sự lợi ích cho chúng sanh như thế. Các ông, những bậc Bồ Tát, phải ghi nhớ kinh nầy hầu tuyên lưu rộng ra—O, Samadhi Self-Mastery King, so it is that Earth Store Bodhisattva has  such inconceivably great and awesome spiritual power to benefit vast numbers of living beings. All you Bodhisattvas should remember this Sutra and proclaim and widely spread it.”

 

Ngài Ðịnh Tự Tại Vương bạch Phật rằng: “Bạch Ðức Thế Tôn! Xin Phật chớ lo! Ngàn muôn ức đại Bồ Tát chúng con đều có thể nương oai thần của Phật mà tuyên lưu rộng kinh nầy nơi cõi Diêm Phù Ðề để cho lợi ích chúng sanh—Samadhi Self-Mastery King said to the Buddha: “World Honored One, please do not be concerned. We thousands of ten thousands of millions of Bodhisattvas Mahasattvas, receiving the Buddha’s awesome spirit, will certainly proclaim this Sutra widely throughout Jambudvipa for the benefit of living beings.”

Ngài Ðịnh Tự Tại Vương Bồ Tát bạch với đức Phật xong, bèn cung kính chắp tay lễ Phật mà lui ra—Having spoken thus to the Buddha, the Bodhisattva Samadhi Self-Mastery King put his palms together respectfully, bowed, and withdrew.

Bấy giờ, Tứ Thiên Vương đồng từ chỗ ngồi đứng dậy cung kính chấp tay mà bạch cùng đức Phật rằng: “Bạch Ðức Thế Tôn! Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát từ kiếp lâu xa nhẫn lại đã phát nguyện rộng lớn như thế, tại sao ngày nay mà vẫn chưa độ hết, ngài lại còn phải phát lời nguyện rộng lớn nữa? Cúi mong Ðức Thế Tôn dạy cho chúng con rõ.”—At that time the Four Heavenly Kings arose from their seats, put their palms together respectfully, and said to the Buddha: “World Honored One! Since Earth Store Bodhisattva has made great vows for so many kalpas, why then has he now yet completed his taking across of beings? Why does he continue to make such far-reaching vast vows? Please, World Honored One, explain this for us.”

 

Phật bảo bố vị Thiên Vương rằng: “Hay thay! Hay thay! Nay vì muốn được sự lợi ích cho chúng sanh, Ta vì các ông cùng Thiên Nhơn ở hiện tại và vị lai, mà nói những sự phương tiện của ngài Ðịa Tạng Bồ Tát ở trong đường sanh tử nơi Diêm Phù Ðề ở Ta Bà thế giới nầy, vì lòng từ mẫn xót thương mà cứu vớt, độ thoát tất cả chúng sanh mắc phải tội khổ.”—The Buddha told the Four Heavenly Kings: “Excellent! Excellent! Now to bring vast benefit to you, as well as to the humans and gods of the present and future, I shall speak of earth Store Bodhisattva’s works in the paths of birth and death in Jambudvipa in the Saha World. I shall speak of his expedient devices and of his kindness and pity in rescuing, saving, taking across, and liberating all beings who are suffering for their offenses.”

 

Bốn vị Thiên Vương bạch Phật: “Vâng! Bạch Ðức Thế Tôn! Chúng con xin muốn được nghe.”—The Four Heavenly Kings replied: “Indeed! World Honored One! We would like to hear about his work.”

 

Ðức Phật bảo bốn vị Thiên Vương: “Từ kiếp lâu xa nhẫn đến ngày nay, Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát độ thoát chúng sanh vẫn còn chưa mãn nguyện, ngài thương xót chúng sanh mắc tội khổ đời nầy, lại quan sát vô lượng kiếp về sau, tội khổ cứ dây dưa mãi không dứt. Vì lẽ đó nên ngài lại phát ra lời trọng nguyện. Ðịa Tạng Bồ Tát ở trong cõi Diêm Phù Ðề nơi thế giới Ta Bà, dùng trăm ngàn muôn ức phương tiện để giáo hóa chúng sanh.”—The Buddha told the Four Heavenly Kings: “From kalpas long ago until the present, Earth Store Bodhisattva has taken across and liberated living beings; yet out of kindness and pity for those beings still suffering for their offenses in this world, he has not yet completed his vows. Moreover, he sees that their causes for limitless kalpas in the future are like uncut vines, and because of this he renews his mighty vows. Thus, in the continent of Jambuvipa, in the Saha World, this Bodhisattva teaches and transforms beings by means of hundreds of thousands of ten thousands of millions of expedient devices.”      

 

Nầy bốn vị Thiên Vương!—Four Heavenly Kings!

·         Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát nếu gặp kẻ sát hại loài sinh vật, thời dạy rõ quả báo vì ương lụy đời trước mà phải bị chết yểu—If Earth Store Bodhisattva meets those who take life, he speaks of a retribution of a short lifespan.

·         Nếu gặp kẻ trộm cắp, thời ngài dạy rõ quả báo nghèo khốn khổ sở—If he meets robbers and petty thieves, he speaks of a retribution of poverty and acute suffering.

·         Nếu gặp kẻ tà dâm thời ngài dạy rõ quả báo làm chim se sẽ, bồ câu, uyên ương—If he meets those who commit sexual misconduct, he speaks of the retribution of  being born as pigeons and as mandrin ducks and drakes.

·         Nếu gặp kẻ nói lời thô ác, thời ngài dạy rõ quả báo quyến thuộc kình chống nhau—If he meets those of harsh speech, he speaks of the retribution of a quarreling family.

·         Nếu gặp kẻ hay khinh chê, thời ngài dạy rõ quả báo không lưỡi và miệng lở—If he meets slanderers, he speaks of the retribution of a tongueless and cankerous mouth.

·         Nếu gặp kẻ quá nóng giận, thời ngài dạy rõ quả báo thân hình xấu xí tàn tật—If he meets those with anger and hatred, he speaks of being ugly and crippled.

·         Nếu gặp kẻ bỏn xẻn thời ngài dạy rõ quả báo cầu muốn không được toại nguyện—If he meets those who are stingy, he speaks of frustrated desires.

·         Nếu gặp kẻ ham ăn, thời ngài dạy rõ quả báo đói, khát và đau cổ họng—If he meets gluttons, he speaks of the retribution of hunger, thirst and sicknesses (illnesses) of the throat.

·         Nếu gặp kẻ buông lung săn bắn, thời ngài dạy rõ quả báo kinh hãi điên cuồng mất mạng—If he meets those who enjoy hunting, he speaks of a frightening insanity and disastrous fate.

·         Nếu gặp kẻ trái nghịch cha mẹ, thời ngài dạy rõ quả báo trời đất tru lục—If  he meets those who rebel against their parens, he speaks of the retribution of being killed in natural disasters.

·         Nếu gặp kẻ đốt núi rừng cây cỏ, thời ngài dạy rõ quả báo cuồng mê đến chết—If he meets those who set fire to mountains or forests, he speaks of the retribution of seeking to commit suicide in the confusion of insanity.

·         Nếu gặp cha mẹ ghẻ ăn ở độc ác, thời ngài dạy rõ quả báo thác sanh trở lại hiện đời bị roi vọt—If he meets malicious parents or step-parents, he speaks of the retribution of being flogged in future lives.

·         Nếu gặp kẻ dùng lưới bắt chim non, thời ngài dạy rõ quả báo cốt nhục chia lìa—If he meets those who net and trap young animals, he speaks of the retribution of being separated from their own children.

·         Nếu gặp kẻ hủy báng Tam Bảo, thời ngài dạy rõ quả báo đui, điếc, câm, ngọng—If he meets those who slander the Triple Jewel, he speaks of the retribution of being blind, deaf or mute.

·         Nếu gặp kẻ khinh chê giáo pháp, thời ngài dạy rõ quả báo ở mãi trong ác đạo—If he meets those who slight the Dharma and regard the teachings with arrogance, he speaks of the retribution of dwelling in the evil paths forever.

·         Nếu gặp kẻ lạm phá của thường trụ, thời ngài dạy rõ quả báo ức kiếp luân hồi nơi địa ngục—If he meets those who destroy  or misuse possessions of the permanently dwelling, he speaks of the retribution of revolving in the hells for millions of kalpas.

·         Nếu gặp kẻ làm ô nhục người tịnh hạnh và vu báng Tăng già, thời ngài dạy rõ quả báo ở mãi trong loài súc sanh—If he meets those wo defile the pure conduct of others and falsely accuse the Sangha, he speaks of the retribution of an eternity in the animal realm.

·         Nếu gặp kẻ dùng nước sôi hay lửa, chém chặt, giết hại sanh vật, thời ngài dạy rõ quả báo phải luân hồi thường mạng lẫn nhau—If he meets those who scald, burn, behead, chop up or othewise harm living beings, he speaks of the retribution of repayment in kind.

·         Nếu gặp kẻ phá giới phạm trai, thời ngài dạy rõ quả báo cầm thú đói khát—If he meets those who violate precepts and the regulations of pure eating, he speaks of the retribution of being born as birds and beasts suffering from hunger and thirst.

·         Nếu gặp kẻ ngã mạn cống cao, thời ngài dạy rõ quả báo hèn hạ bị người sai khiến—If he meets those who are arrogant and haughty, he speaks of the retribution of being servile and of low classes.

·         Nếu gặp kẻ đâm thọc gây gổ, thời ngài dạy rõ quả báo không lưỡi hay trăm lưỡi—If he meets those whose double-tongued behavior causes dissension and discord, he speaks of retribution of tonguelessness (being mute) and speech impediments.

·         Nếu gặp kẻ tà kiến mê tín, thời ngài dạy rõ quả báo thọ sanh vào chốn hẻo lánh—If he meets those of deviant view, he speaks of the retribution of rebirth in the frontier regions.

 

Những chúng sanh trong cõi Diêm Phù Ðề, từ nơi thân khẩu ý tạo tác, kết quả trăm ngàn muôn sự báo ứng như thế, nay chỉ nói sơ lược đó thôi. Những nghiệp cảm sai khác của chúng sanh trong chốn Diêm Phù Ðề như thế, Ðịa Tạng Bồ Tát dùng trăm ngàn phương tiện để giáo hóa. Những chúng sanh ấy trước phải chịu lấy các quả báo như thế,  sau lại đọa vào địa ngục trải qua nhiều kiếp không lúc nào thoát khỏi. Vì thế nên các ông là bậc bảo vệ người cùng bảo trợ cõi nước, chớ để những nghiệp chướng đó làm mê hoặc chúng sanh—That is a general description of the hundreds of thousands of differing retributions resulting from the habitual evil deeds of body, mouth and mind committed by the living beings of Jambudvipa. Since the living beings of Jambudvipa have such differing karmic responses, Earth Store Bodhisattva uses hundreds of thousands of expedient means to teach and transform them. The living beings who commit offenses must first undergo retributions such as these and, then, fall into the hells, where they pass through kalpas with no moment of escape. You should therefore protect people and protect their countries. Do not allow living beings to be confused by these manifold deeds.

 

Bốn vị Thiên Vương nghe xong, rơi lệ than thở chắp tay lễ Phật mà lui ra—On hearing this, the Four Heavenly Kings wept sorrowfully, placed their palms together, and withdrew.

 

CHƯƠNG THỨ NĂM—CHAPTER FIVE

DANH HIỆU CỦA ÐỊA NGỤC—THE NAMES OF THE HELLS

 

Lúc đó ngài Phổ Hiền Bồ Tát thưa cùng ngài Ðịa Tạng: “Thưa nhơn giả! Xin ngài vì trời rồng, bát bộ, và tất cả chúng sanh ở hiện tại cùng vị lai, mà nói danh hiệu của những địa ngục là chỗ thọ báo của hạng chúng sanh bị tội khổ ở trong cõi Ta Bà cùng Diêm Phù Ðề nầy, và nói những sự về quả báo không làm. Làm cho chúng sanh trong thời mạt pháp sau nầy biết rõ những quả báo đó—At that time Universal Worthy Bodhisattva Mahasattva, said to Earth Store Bodhisattva: “Human One! For the sake of the gods, dragons, and the fourfold assembly, as well as for all living beings of the present and future, please speak about the names of the hells which are places where living beings of Jambudvipa in the Saha World who are suffering for their offenses, undergo retribution for their evil deeds, and of the retributions undergone for evil, so that future generations of living beings in the Dharma-Ending Age will know what those retributions are.”

 

Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát đáp: “Thưa Nhơn Giả! Nay tôi nương oai lực của chư Phật và của ngài mà nói danh hiệu của các địa ngục, cùng những sự về tội báo và ác báo—Earth Store Bodhisattva replied: “Human One! Now receiving the Buddha’ awesome spirit as well as  your  strength, great Bodhisattva, I shall speak in general terms of the names of the hells and describe the retributions for offenses and evil deeds.

 

Thưa Nhơn Giả! Phương đông của Diêm Phù Ðề có dãy núi tên là Thiết Vi. Dãy núi đó tối thẳm, không có ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, trong đó có địa ngục lớn tên là Cực Vô Gián, lại có địa ngục tên là Ðại A Tỳ, lại có địa ngục tên là Tứ Giác, lại có địa ngục tên là Phi Ðao, lại có địa ngục tên là Hỏa Tiển, lại có địa ngục tên là Giáp Sơn, lại có địa ngục tên là Thông Thương, lại có địa ngục tên là Thiết Xa, lại có địa ngục tên là Thiết Sàng, lại có địa ngục tên là Thiết Ngưu, lại có địa ngục tên là Thiết Y, lại có địa ngục tên là Thiên Nhẫn, lại có địa ngục tên là Thiết Lư, lại có địa ngục tên là Dương Ðồng, lại có địa ngục tên là Bảo Trụ, lại có địa ngục tên là Lưu Hỏa, lại có địa ngục tên là Canh Thiệt, lại có địa ngục tên là Tỏa Thủ, lại có địa ngục tên là Thiêu Cước, lại có địa ngục tên là Ðạm Nhãn, lại có địa ngục tên là Thiết Hoàn, lại có địa ngục tên là Tranh Luận, lại có địa ngục tên là Thiết Thù, lại có địa ngục tên là Ða Sân—Human One! East of Jambudvipa there is a mountain range called the Iron Ring, which is totally black and has neither sun nor moonlight. There is a great hell there called Ultimately Uninterrupted, and another called Great Avichi. There is also a hell called Four Horns, a hell called Flying Knives, a hell called Fiery Arrow, and a hell called Squeezing Mountains; a hell called Piercing Spears, a hell called Iron Carts, a hell called Iron Beds, and a hell called Iron Oxen; a hell called Iron Clothing, a hell called Thousand Blades, a hell called Iron Asses, and a hel caled Molten Brass; a hell called Embacing Pillars, a hell called Flowing Fire, a hell called Plowing Tongues, and a hell called Head Chopping; a hell called Burning Feet, a hel called Eye Pecking, a hell called Pellets, and a hell called Quarreling; a hell called Iron Ax, and a hell called Much Hatred.

                

Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát nói rằng: “Thưa Nhơn Giả! Trong dãy núi Thiết Vi có những địa ngục như thế số nhiều vô hạn. Lại có địa ngục Kiếu Oán, địa ngục Bạt Thiệt, địa ngục Phẩn Niếu, địa ngục Ðồng Tỏa, địa ngục Hỏa Tượng, địa ngục Hỏa Cẩu, địa ngục Hỏa Mã, địa ngục Hỏa Ngưu, địa ngục Hỏa Sơ, địa ngục Hỏa Thạch, địa ngục Hỏa Sàng, địa ngục Hỏa Lương, địa ngục Hỏa Ưng, địa ngục Cứ Nha, địa ngục Bác Bì, địa ngục Ẩm Huyết, địa ngục Thiêu Thủ, địa ngục Thiêu Cước, địa ngục Ðảo Thích, địa ngục Hỏa Ốc, địa ngục Thiết Ốc, địa ngục Hỏa Lang—Earth Store Bodhisattva said: “Human One! There is an unlimited number of hells such as those within the Iron Ring. In addition, there is the hell of Crying Out, the hell of Pulling Tongues, and the hell of Brazen Locks; the hell of Fire Elephants, the hell of Fire Dogs, the hell of Fire Horses, and the hell of Fire Oxen; the hell of Fire Mountains, the hell of Fire Stones, the hell of Fire Beds, and the hell of Fire Beams; the hell of Fire Eagle, the hell of Sawing Teeth, the hell of Flaying Skin, and the hell of Blood Drinking; the hell of Burning Hands, the hell of Burning Feet, the hell of Impaling Thorns, and the hell of Fire Rooms; the hell of Iron Rooms, and the hell of Fire Wolves.

 

Những địa ngục như thế trong đó mỗi ngục lớn lại có những ngục nhỏ, hoặc một, hoặc hai, hoặc ba, hoặc bốn, nhẫn đến trăm ngàn, trong số đó, danh hiệu chẳng đồng nhau—Such are the hells, and within each of them there are either one, or two, or three, or four or as many as hundreds of thousands of smaller hells, each with its own name.

 

Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát nói với ngài Phổ Hiền rằng: “Thưa Nhơn Giả! Ðó đều do chúng sanh trong cõi Diêm Phù Ðề làm những điều ác mà tùy nghiệp chiêu cảm ra những địa ngục như thế. Nghiệp lực rất lớn, có thể sánh với núi Tu Di, có thể sâu dường như biển cả, có thể ngăn đạo Thánh. Vì thế chúng sanh chớ khinh điều quấy nhỏ mà cho là không tội, sau khi chết đều có quả báo dầu mảy mún đều phải chịu lấy—Earth Store Bodhisattva told Universal Worthy Bodhisattva: “Human One! Such are the karmic responses of the living beings of Jambudvipa who commit evil deeds. The power of karma is extremely great and can rival Mount Sumeru; it can deepen the great ocean and obstruct the sagely Way. For this reason, living beings should not look lightly upon slight small evil, considering them not to be offenses; for after death, retribution is undergone in the most exact detail.

 

Chí thân như cha với con, mỗi người  cũng theo nghiệp  của mình mà đi khác đường, dầu cho có gặp nhau cũng chẳng bằng lòng chịu khổ thay nhau. Nay tôi nương oai lực của Ðức Phật mà nói sơ lược những sự tội báo nơi địa ngục. Trông mong Nhơn Giả lắng nghe lời đó—Fathers and sons have the closest relationship, but their roads diverge and each goes his own way. Even if they should meet, neither  would consent to undergo suffering in the other’s place. Now, drawing on the awesome spiritual power of the Buddha, I shall speak in general about the retributions for offenses in the hells. Please, Human One, listen for a moment to what I am going to say.       

 

Ngài Phổ Hiền Bồ Tát đáp: “Dầu từ lâu tôi đã rõ tội báo nơi ba đường ác đạo rồi, nhưng tôi muốn nhơn giả nói ra để làm cho tất cả chúng sanh có tâm hạnh ác trong đời mạt pháp sau nầy, nghe được lời dạy của nhơn giả, mà biết quy hướng về giáo pháp của Phật—Universal Worthy Bodhisattva replied: “I have long known of the retributions of the Three Evil Paths. I hope that Human One will discuss them, so that living beings who do what is evil in the future time of the Dharma-Ending Age, hearing the Human One’s words, will be brought to take refuge with the Buddha.

 

Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát nói: “Thưa Nhơn Giả! Những sự tội báo trong chốn địa ngục  như  vầy: Hoặc có địa ngục kéo lưỡi tội nhân ra mà cho trâu cày trên đó, hoặc có địa ngục moi tim tội nhân cho quỷ Dạ Xoa ăn, hoặc có địa ngục vạc dầu sôi sùng sục nấu thân tội nhân, hoặc có địa ngục đốt cột đồng cháy đỏ rồi bắt tội nhân ôm lấy. Hoặc có địa ngục từng bực lửa lớn tấp vào mình tội nhân, hoặc có địa ngục toàn là băng giá, hoặc có địa ngục  đầy phẩn tiểu, hoặc có địa ngục lao gai chông sắt, hoặc có địa ngục đâm nhiều giáo lửa. Hoặc có địa ngục chỉ đập vai lưng, hoặc có địa ngục chỉ đốt chân tay, hoặc có địa ngục cho rắn sắt quấn cắn, hoặc có địa ngục xua đuổi chó sắt, hoặc có địa ngục đóng ách lừa sắt—Earth Store Bodhisattva said: “Human One! Such are the retribution in the hells for offenses. There can be a hell in which offender’s tongue is stretched out and plowed through by cattle; or a hell in which the offender’s heart is pulled out and eaten by yakshas; or a hell in which offenser’s body is fried in cauldrons of boiling iol; or a hell in which offender’ is made to embrace a red-hot bronze pillar; or a hell in which the offender is followed everywhere by fire; or a hell in which cold and ice  are ever present; or a hell in which there is limitless excrement and urine; or a hell filled with nothing but flying maces; or a hell  in which there are many collections of fiery spears; or a hell in which one is constantly beaten on the chest and back; or a hell in which one’s hands and feet are burned; or a hell in which the offender is wrapped and bound by iron serpents; or a hell in which one is pursued by running iron dogs; or a hell in which the offender is stretched between iron mules.

 

Nhơn Giả! Những quả báo như thế trong mỗi mỗi ngục có trăm ngàn khí cụ để hành hình, đều bằng đồng, bằng sắt, bằng đá, bằng lửa. Bốn loại khí cụ nầy do các hạnh nghiệp quấy ác của chúng sanh mà cảm vời ra. Nếu tôi thuật rõ cả những sự về tội báo ở địa ngục, thời trong mỗi ngục lại có trăm ngàn thứ khổ sở, huống chi là nhiều ngục! Nay tôi nương sức oai thần của Ðức Phật và vì nhơn giả hỏi mà nói sơ lược như thế. Nếu nói rõ cả thời cùng kiếp nói cũng không hết—Human One! In such retributions, in each hell there are a hundred thousand kinds of utensils for the working out of karma, and all are made of copper, iron, stone, or fire. Those four materials operate in response to amassed karma. If I were to explain in detail the retributions in the hells for offenses, in each and every hell there are hundreds of thousands of additional kinds of acute suffering. How much more numerous are the sufferings in many hells! Now, having drawn upon the awesome spirit of the Buddha, and in response to the Human One’s question, I have given this general explanation; for if I spoke in detail, I would not finish for kalpas.

 

 

CHƯƠNG THỨ SÁU—CHAPTER SIX

NHƯ LAI TÁN THÁN—THE THUS COME ONE’S PRAISE

 

Lúc đó khắp thân của Ðức Thế Tôn phóng ra ánh sáng lớn soi khắp đến trăm ngàn muôn ức hằng hà sa cõi nước các chư Phật; trong ánh sáng đó vang ra tiếng lớn bảo khắp các cõi nước của chư Phật rằng: “Tất cả các hàng đại Bồ Tát và trời, rồng, quỷ, thần, vân vân lắng nghe hôm nay ta khen ngợi  rao bày những sự của ngài Ðịa Tạng Bồ Tát ở trong mười phương thế giới, hiện ra sức từ bi oai thần không thể nghĩ bàn, để cứu giúp tất cả tội khổ chúng sanh. Sau khi ta diệt độ, thời hàng Bồ Tát Ðại sĩ, các ông cùng với trời, rồng, quỷ, thần, vân vân, nên dùng nhiều phương tiện để gìn giữ kinh nầy, làm cho tất cả mọi loài chúng sanh đều thoát khỏi tất cả sự khổ, mà chứng cảnh vui của Niết Bàn—At that time the World Honored One emitted a great bright light from his entire body, totally illuminating as many Buddha-Worlds as there are grains of sand in hundreds of thousands of ten thousands of millions of Ganges Rivers. With a great sound he spoke to all the Bodhisattvas Mahasattvas, of all these Buddha-Worlds, as well as to the gods, dragons, ghosts and spirits, humans, non-humans and the others, saying: “Listen today, as I am going to praise and extol Earth Store Bodhisattva Mahasattva, who manifests great power of inconceivable awesome spirit, kindness and compassion, throughout the worlds of the ten directions, to rescue and protect living beings from suffering for all their offenses. After my extinction, all of you Bodhisattvas, great knights, and all of you gods, dragons, ghosts, spirits, and others should extensively practice, using expedient devices for the sake of protecting this sutra and causing all living beings to testify to the bliss of Nirvana.”

 

Sau khi Phật nói xong lời ấy, trong pháp hội có một vị Bồ Tát tên là Phổ Quảng cung kính chắp tay mà bạch cùng Ðức Phật: “Bạch Ðức Thế Tôn! Nay con nghe  đức Thế Tôn khen ngợi ngài Ðịa Tạng Bồ Tát có đức oai thần rộng lớn không thể nghĩ bàn như thế. Trông mong đức Thế Tôn lại vì những chúng sanh trong thời mạt pháp nầy, mà tuyên nói các sự nhơn quả của ngài Ðịa Tạng Bồ Tát làm lợi ích cho hàng trời người. Làm cho hàng trời, rồng, bát bộ và chúng sanh trong đời sau kính vâng lời của Ðức Phật.”—After the Buddha had spoken, a Bodhisattva named Universally Expansive arose from the midst of the assembly, placed his palms together respectfully, and said to the Buddha: “World Honored One! We now observe the World Honored One praising the Earth Store Bodhisattva, for having such inconceivably great and awesome spiritual virtue. World Honored One, for the sake of future living beings in the Dharma-Ending Age, please proclaim for us the deeds of cause and effect by which Earth Store Bodhisattva has benefitted people and gods; causing all the gods, dragons, and the remainder of the eightfold division, as well as living beings of the future, to receive the Buddha’s teaching respectfully.” 

 

Bấy giờ Ðức Thế Tôn bảo Phổ Quảng Bồ Tát cùng trong tứ chúng rằng: “Lắng nghe! Lắng nghe! Ta sẽ vì các ông nói lược về những sự phước đức của ngài Ðịa Tạng Bồ Tát làm lợi ích cho người cùng trời.”—At that time the World Honored One said to the Bodhisattva Universally Expansive, to the fourfold assembly, and others, “Listen attentively! Listen attentively! I will briefly describe for you how Earth Store Bodhisattva’s deeds of blessings and virtues have benefitted people and gods.”

 

Ngài Phổ Quảng Bồ Tát bạch Phật: “Vâng! Bạch đức Thế Tôn! Chúng con hoan hỷ xin  nghe.”—Universally Expansive Bodhisattva replied: “So be it, World Honored One. We shall be glad to listen.”

 

Ðức Phật bảo ngài Phổ Quảng Bồ Tát: “Trong đời sau, như có người thiện nam tử thiện nữ nhân nào nghe được danh hiệu của Ðịa Tạng Bồ Tát, hoặc là chắp tay, hoặc là ngợi khen, hoặc là đảnh lễ, hoặc là luyến mộ, người đó sẽ qua khỏi tội khổ trong ba mươi kiếp—The Buddha told the Bodhisattva Universally Expansive: “If, in the future, good men or good women hear Earth Store Bodhisattva Mahasattva’s naem, if they place their palms together in respect, praise, bow to, or fix their gaze on him, they will overcome the offenses of thirty kalpas.

 

Này Phổ Quảng! Như có kẻ thiện nam tử hay thiện nữ nhân nào hoặc là họa vẽ hình tượng của Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát rồi chừng một lần chiêm ngưỡng , một lần đảnh lễ, người đó sẽ được sanh lên cõi trời Ðao Lợi một trăm lần, không còn phải bị sa đọa vào ác đạo nữa. Ví dầu ngày kia phước trời đã hết mà sanh xuống nhơn gian, cũng vẫn làm vị quốc vương, không hề mất sự lợi lớn—Universally Expansive, if good men or good women either paint; or draw; or use clay, stone, lacquerware, gold, silver, brass or iron to make this Bodhisattva’s image, gaze at it and bow but once, they will be reborn one hundred times in the Heaven of the Thirty-Three and will eternally avoid falling into the evil paths. If their heavenly blessings become exhausted and they are born below in the human realm, they will be kings of countries and not lose their great benefits. 

 

Như có người nữ nào nhàm chán thân gái, hết lòng cúng dường tượng vẽ của Ðịa Tạng Bồ Tát, và những tượng cất  bằng đất, đá, keo, sơn, đồng, sắt, vân vân. Ngày ngày thường đem hoa, hương, đồ ăn, đồ uống, y phục, gấm lụa, tràng phan, tiền bạc, vật báu, vân vân cúng dường như thế mãi không thôi. Người thiện nữ đó sau khi mãn một thân gái hiện tại, thời đến trăm ngàn muôn ức kiếp còn không sanh vào cõi nước  có người nữ, huống nữa là thọ thân gái! Trừ khi vì lòng từ phát mguyện cần phải thọ thân gái để độ chúng sanh. Nương nơi phước cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát và sức công đức đó, trong trăm ngàn muôn kiếp chẳng còn thọ thân người nữ lại nữa—If there are women who detest the body of a woman, and who wholeheartedly make offerings to Earth Store Bodhisattva’s image, whether the image be a painting or made of clay, stone, laquerware, brass, iron, or some other material, and if they do so day after day without fail, continually  using flowers, incense, food, drink, clothing, colored silks, banners, money, jewels, and other items as offerings, when the female bodies received and retribution in that particular life by those good women come to an end, for hundreds of thousands of ten thousands of aeons, they will never again be born in worlds where there are women, much less be reborn as one, unless it be through the strength of their compassionate vows to take on a woman body voluntarily in order to liberate living beings. By receiving the powers resulting from these offering to Earth Store and the power of meritorious virtue, they will not undergo retribution in the bodies of women throughout hundreds of thousands of ten thousands of aeons. 

 

Lại nữa, Phổ Quảng Bồ Tát! Nếu có người nữ nào chán thân xấu xí và nhiều bịnh hoạn, đến trước tượng của Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát chí tâm đảnh lễ chừng trong khoảng một bữa ăn, người nữ  đó trong ngàn vạn kiếp thọ sanh được thân hình tướng mạo xinh đẹp không có bịnh tật. Người nữ xấu xí đó nếu không nhàm chán thân gái, thời trăm ngàn muôn ức đời thường làm con gái nhà vua cho đến làm vương phi, dòng dõi nhà quan lớn cùng con gái các vị đại trưởng giả, tướng mạo đoan  trang xinh đẹp. Do vì có lòng chí thành chiêm ngưỡng đảnh lễ hình tượng của ngài Ðịa Tạng Bồ Tát mà được phước như thế—Moreover, Universally Expansive, if a woman who dislikes being ugly and prone to illness, simply gazes at and bows to an image of Earth Store Bodhisattva with sincere resolve for even the space of a single meal, throughout thousands of ten thousands of aeons, she will always receive a body with perfect features. If that ugly woman does not dislike the body of a woman, during hundreds of thousands of ten thousands of millions of lives, she will always be the daughter or wife or a member of a royal family, of a prime minister, of a great family or the daughter of an elder and be born with well-formed features. Because of her sincere resolve, she will obtain such blessings from gazing at and bowing to Earth Store Bodhisattva.

 

Lại nữa, nầy Phổ Quảng! Như có người thiện nam tử thiện nữ nhân nào có thể đối trước tượng của Ðịa Tạng Bồ Tát mà trổi các thứ kỹ nhạc, ngâm ca khen ngợi, dùng hương hoa cúng dường, cho đến khuyến hóa được một hay nhiều người. Những hạng người đó ở trong đời hiện tại cùng thuở vị lai, thường được trăm ngàn vị quỷ thần ngày đêm theo hộ vệ còn không cho những việc hung dữ đến tai người đó, huống là cho người đó phải chịu các tai vạ bất ngờ!—Moreover, Universally Expansive, if a good man or good woman is able to play music, sing or chant praises and make offerings of incense and flowers before that Bodhisattva’s image, and is able to exhort another  person or many others to do the same, both now and in the future, such a person will be surrounded day and night by hundreds of  thousands of ghosts and spirits who will even present bad news from reaching his cars, mush less allow him on her personally to have any accidents.

 

Lại nữa, nầy Phổ Quảng Bồ Tát! Trong đời sau như có người ác và ác thần, ác quỷ nào  thấy kẻ thiện nam tử thiện nữ nhân quy-y  cung kính, cúng dường ngợi khen chiêm ngưỡng, đảnh lễ hình tượng của Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát, mà vọng sanh khinh chê là không có công đức cùng không có sự lợi ích, hoặc nhăn răng ra cười, hoặc chê sau lưng hay chê trước mặt, hoặc khuyên bảo  người khác cùng chê, hoặc khuyên bảo một người hay nhiều người cùng chê, cho đến sanh lòng chê bai  trong chừng một niệm. Thời những kẻ như thế đến sau khi một ngàn đức Phật trong Hiền Kiếp nhập diệt cả, bị tội báo khinh chê nên còn ở trong địa ngục A Tỳ chịu khổ rất nặng. Qua khỏi Hiền Kiếp nầy mới được thọ thân ngạ quỷ, rồi mãi đến một ngàn kiếp sau mới thọ thân súc sanh; lại trải qua đến một ngàn kiếp nữa mới được sanh làm người. Dầu được làm người nhưng ở vào hạng bần cùng hèn hạ tật nguyền, hay bị những nghiệp ác ràng buộc vào thân, không bao lâu phải sa đọa vào ác đạo nữa. Nầy Phổ Quảng! Khinh chê người khác cúng dường mà còn mắc phải tội báo xấu khổ như thế, huống nữa là tự sanh ác kiến mà khinh chê phá diệt!—Moreover, Universally Expansive, in the future evil men, evil spirits, or evil ghosts, may see good men or good women taking refuge with, respectfully making offerings to, praising, beholding and bowing to Earth Store Bodhisattva’s image. Those evil beings may wrongly ridicule and malign the acts or worship as profitless (non-beneficial or without benefit) and devoid of  meritorious qualities. They may laugh so their teeth show, or condemn them behind their backs, or exhort others to do likewise, whether one person or many; or they may even produce just one single thought of slanders. In the Avichi Hell, such beings will undergo the utmost in severe punishment as retribution for their ridicule and they will remain there even after the thousand Buddhas of the Worthy Aeons have passed into extinction. Only after the aeons will they be reborn among the hungry ghosts, where they will pass a thousand more aeons before being reborn as animals. Only after another thousand aeons will they obtain a human body. Yet even though they receive a human body, their faculties will be deficient, they will  be poor and of low classes, and their minds will be considerably bound by their evil karma. Before long, they will fall into the evil paths again. Therefore, Universally Expansive, since those who ridicule and malign offerings made by others undergo these retributions, how much worse will it be if they particularly give rise to evil views, and malign and destroy them.

 

Lại nữa, nầy Phổ Quảng Bồ Tát! Trong đời sau, như có người nam người nữ nào  đau nằm liệt mãi trên giường gối, cầu sống hay muốn chết cũng đều không được. Hoặc đêm nằm chiêm bao thấy quỷ dữ đến cho đến kẻ thân thích trong nhà, hoặc thấy đi trên đường nguy hiểm, hoặc bị bóng đè, hoặc với quỷ thần cùng đi. Trải qua nhiều tháng nhiều năm, đến nổi thành bệnh lao, bệnh bại, vân vân. Trong giấc ngủ kêu réo thê thảm sầu khổ. Ðây đều bị nơi nghiệp đạo luận đối chưa quyết định là khinh hay trọng, nên hoặc là khó chết, hoặc là khó lành. Mắt phàm tục  của kẻ nam người nữ không thể biện rõ việc đó, chỉ phải nên đối trước tượng của chư Phật, Bồ Tát, to tiếng mà tụng đọc kinh nầy một biến. Hoặc lấy những món vật riêng của người bệnh thường ưa tiếc, như y phục, đồ quý báu, nhà cửa ruộng vườn, vân vân  đối trước người bệnh cất tiếng lớn mà xướng lên rằng: “Chúng tôi tên đó, họ đó, nay vì người bệnh nầy đối trước kinh tượng đem những của vật nầy hoặc cúng dường kinh tượng, hoặc tạo hình tượng của Phật, Bồ Tát, hoặc xây dựng chùa tháp, hoặc sắm đèn dầu thắp cúng, hoặc cúng vào của thường trụ. Xướng lên như vậy ba lần để cho người bệnh được nghe biết. Giả sử như thần thức của người bệnh đã phân tán đến hơi thở đã dứt, thời hoặc một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, cho đến bảy ngày, cứ lớn tiếng xướng bạch như trên và lớn tiếng tụng kinh nầy. Sau khi người bệnh đó mạng chung thời dầu cho từ trước có tội vạ nặng nhẫn đến năm tội vô gián, cũng được thoát khỏi hẳn, thọ sanh  vào đâu cũng thường nhớ biết việc đời trước. Huống nữa là người thiện nam tử thiện nữ nhân nào tự mình biên chép kinh nầy, hoặc bảo người biên chép, hoặc tự mình đắp vẽ hình tượng của Bồ Tát, cho đến bảo người khác vẽ đắp, người đó khi thọ quả báo chắc được nhiều phước lợi lớn—Moreover, Universally Expansive, in the future, men or women may long be bedridden and in spite of their wishes be unable either to get well or to die. At night, they may dream of evil ghosts, of family and relatives or of wandering on dangerous paths. In numerous nightmares, they may roam with ghosts and spirits. As these dreams continue over a period of days, months, and years, such persons may weaken and waste away, cry out in pain in their sleep and become depressed and melancholic. All of this is due to the degree of severity of their evil karmic paths being unresolved, so they both have difficulty dying and cannot be cruel. The ordinary eyes of men and women cannot recognize such things. Then, one should simply recite this Sutra once in a loud voice before images of the Buddhas and Bodhisattvas or one should offer possessions which the sick one cherishes, such as clothing, jewels, gardens, or houses, chanting in a loud voice before the sick person. “I, so and so, before this Sutra and image, give all these items on behalf of this sick person, as offerings to the sutra and images; or to make images of Buddhas and Bodhisattvas, or to construct temples and monasteries, or to light oil lamps, or as a donation to the permanently dwelling.” In such a manner one should tell the sich person three times of the offerings being made, informing him so that he both hears and understand them. If all his consciousnesses have been scattered and his breath has stopped, then for one, two, three, four, and on through seven days, one should simply read this sutra in a loud voice. When that person’s life has ended, he will achieve eternal liberation from all the heavy and disastrous ofenses committed in his former lives, even offenses that receive Five-Ways Uninterrupted retribution. He will be born in a place where he will always know his past lives. How much greater will the karmic reward be if a good man or good woman writes this sutra out himself, or tells others to do so. If he carves or paints images himself, or tells others to do so! They will definitely be greatly benefited.   

 

Nầy Phổ Quảng Bồ Tát!  Vì thế nên, nếu ông thấy có người nào đọc tụng kinh nầy, cho đến chỉ trong một niệm ngợi khen kinh nầy, hoặc có lòng  cung kính đối với kinh, thời ông cần phải dùng trăm ngàn phương tiện khuyến hóa người đó, phát lòng siêng năng chớ đừng thối thất, thời có thể được trăm ngàn muôn ức công đức không thể nghĩ bàn ở hiện tại và vị lai—Therefore, Universally Expansive; if you see people reading and reciting this sutra or even having a single thought of praise for it, or if you meet someone who reveres it, you should employ hundreds of thousands of expedients to exhort such people to be diligent and not retreat. In both the present and the future, they will be able to obtain thousands of ten thousands of millions of inconceivable meritorious virtues.

 

Lại nữa nầy Phổ Quảng Bồ Tát!  Như những chúng sanh đời sau, hoặc trong giấc ngủ, hoặc trong chiêm bao thấy các hạng quỷ thần nhẫn đến các hình lạ, rồi hoặc buồn bả, hoặc khóc lóc, hoặc rầu rỉ, hoặc than thở, hoặc hãi hùng, hoặc sợ sệt, vân vân. Ðó đều là vì hoặc cha mẹ, con em, hoặc chồng vợ, quyến thuộc trong một đời, mười đời, hay trăm đời, ngàn đời về thuở quá khứ bị đọa lạc vào ác đạo chưa ra được khỏi, không biết trông mong vào phước lực nơi nào để cứu vớt nỗi khổ não, nên mới về mách bảo với người  có tình cốt nhục trong đời trước cầu mong làm phương tiện gì để hầu được thoát kỏi ác đạo. Nầy Phổ Quảng! Ông nên dùng sức oai thần, khiến hàng quyến thuộc đó đối trước hình tượng của chư Phật, chư Bồ Tát chí tâm tự đọc kinh nầy, hoặc thỉnh người  khác đọc đủ số  ba biến hoặc đến bảy biến. Như vậy là kẻ quyến thuộc đương mắc trong ác đạo kia, khi tiếng tụng kinh đủ số mấy biến đó xong sẽ được giải thoát, cho đến trong khi mơ ngủ không còn thấy hiện về nữa—Moreover, Universally Expansive, when dreaming or droway, living beings in the future may see ghosts, spirits, and other forms that are either sad, weeping, or worried, fearful or terrified. Those are all fathers, mothers, sons, daughters, brothers, sisters, husbands, wives and relatives from one, ten, a hundred, or a thousand lives past who have not yet been able to leave the evil paths. They have no place from which to hope for the power of blessings to rescue them, and so they tell their flesh-and-blood descendants to establish expedient devices for them so that they might leave the evil paths. Universally Expansive, using your spiritual power, you should cause all these descendants to recite this sutra with sincere resolve before the images of Buddhas or Bodhisattvas, or to request others to recite it, either three or seven times. When the Sutra has been sounded the proper number of times, relatives in the evil paths will obtain liberation and never again be seen by those who are dreaming or drowsy.

 

Lại nữa nầy Phổ Quảng Bồ Tát! Như đời sau nầy có những hạng người hạ tiện, hoặc tớ trai, hoặc tớ gái, nhẫn đến những kẻ không được quyền tự do, rõ biết là do tội nghiệp đời trước gây ra nên cần phải sám hối đó, thời nên chí tâm chiêm ngưỡng, đảnh lễ hình tượng của ngài Ðịa Tạng Bồ Tát. Rồi trong bảy ngày niệm danh hiệu của Ðịa Tạng Bồ Tát đủ một muôn biến. Những người trên đó sau khi mãn báo thân hạ tiện ở hiện đời trong ngàn muôn đời về sau thường sanh vào bậc tôn quý, trọn không bao giờ còn phải sa đọa vào ba đường ác khổ nữa—Moreover, Universally Expansive, in the future, lowly people, bondsmen, serving maids, and others who are not free, may be aware of their past deeds and wish to repent of them and to reform. If while gazing at and worshiping Earth Store Bodhisattva’s image with sincere resolve for seven days, they are able to recite his name a full ten thousand times, then when their current retribution ends, those people will always  be born into  wealth and honor, for thousands of ten thousands of lives; how much the less pass through any of the sufferings of the Three Evil Paths.

 

Lại nữa nầy Phổ Quảng Bồ Tát! Về trong thuở về sau nầy, nơi cõi Diêm Phù Ðề, trong hàng Sát Ðế Lợi, Bà La Môn, trưởng giả, cư sĩ, tất cả các hạng người, và những dân tộc dòng họ khác, như có người nào mới sanh đẻ hoặc con trai hoặc con gái, nội trong bảy ngày, sớm vì đứa trẻ mới sanh  ra đó mà tụng kinh điển không thể nghĩ bàn nầy, lại vì  đứa trẻ mà niệm danh hiệu  của Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát đủ một muôn biến. Ðược vậy thời đứa trẻ hoặc trai hay gái mới sanh ra đó, nếu đời trước nó có gây tội vạ chi cũng được thoát khỏi cả, nó sẽ an ổn vui vẻ dễ nuôi, lại thêm được sống lâu. Còn như nó là đứa nương nơi phước lực mà thọ sanh, thời   đời nó càng được an vui hơn, cùng sống lâu hơn—Moreover, Universally Expansive, if in the future in Jamubvipa there are Kshatriyas, Brahmans, Elders, Upasakas, and others of various names and clans who have newborn sons or daughters, they should recite this inconceivable Sutra and recite the Bodhisattva’s name a full ten thousand times during the seven days before the child’s birth. If that newly born child, whether male or female, was to have undergone a disastrous retribution for past lives, it will be liberated from that retribution and be peaceful, happy, easily raised and long-lived. If it was to have received a life of blessings, its peace and happiness will be increased as will its lifespan.

 

Lại nữa nầy Phổ Quảng Bồ Tát! Trong mỗi tháng, những ngày mồng một, mồng tám, mười bốn, rằm, mười tám, hăm ba, hăm bốn, hăm tám, hăm chín, và ba mươi, mười ngày trên đây là ngày các nghiệp tội kết nhóm lại để định là nặng hay nhẹ. Tất cả những cử chỉ động niệm  của chúng sanh trong cõi Nam Diêm Phù Ðề không có điều gì chẳng phải là tội lỗi, huống nữa là những kẻ buông lung  giết hại, trôm cắp, tà dâm, vọng ngữ trăm điều tội lỗi. Về đời sau, nếu có chúng sanh  nào trong mười ngày trai kể trên đây, mà có thể đối trước hình tượng của chư Phật, Bồ Tát, Hiền, Thánh để đọc tụng kinh nầy một biến, thời chung quanh chỗ người đó ở bốn hướng đông, tây, nam, bắc trong khoảng một trăm do tuần  không có xãy ra những việc tai nạn. Còn chính nhà của người đó ở, tất cả mọi người hoặc già, hoặc trẻ về hiện tại và vị lai đến trăm ngàn năm xa khỏi hẳn ác đạo. Trong mười ngày trai trên đây nếu có thể mỗi ngày tụng một biến kinh nầy, thời trong đời hiện tại hay làm cho người trong nhà không phải mắc bệnh tật bất ngờ, đồ ăn mặc dư dật—Moreover, Universally Expansive, on the first, eighth, fourteenth, fifteenth, eighteenth, twenty-third, twenty-fourth, twenty-eighth, twenty-ninth, and thirtieth days of the lunar month, the offenses of living beings are tabulated and their gravity assessed. Since every single movement or stirring of thought on the part of the living beings of Jambudvipa is karma and an offense, how much more likely are they to incur offenses when they give free reign to their emotions and commit killing, stealing, sexual misconduct and false speech. The variety of these offenses is hundred and thousand-fold. If they are able to recite this Sutra once on these ten days, before the images of Buddhas, Bodhisattvas, or Woorthy Sages, there will be no disasters for one hundred yojanas to the north, south, east and west. Those in their families, both old and young, now and in the future, will be apart from the evil paths throughout hundreds of thousands of years. If they can recite it once on each of these ten vegetarian days, there will be no accidents or illnesses in the family, and there will be food and clothing in abundance.  

 

Nầy Phổ Quảng! Vì thế nên biết rằng Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát có bất khả thuyết trăm ngàn muôn ức những sự oai thần lực lớn  nhiều sự lợi ích cho chúng sanh như thế. Chúng sanh  trong cõi Diêm Phù Ðề nầy có duyên lớn với Ngài Ðịa Tạng Ðại Sĩ. Những chúng sanh đó hoặc được nghe danh hiệu của Ðịa Tạng  Bồ Tát, hoặc  thấy được hình tượng của Ðịa Tạng Bồ Tát, cho đến nghe chừng ba chữ hay năm chữ trong kinh nầy, hoặc một bài kệ hay một câu, thời những người đó hưởng sự an vui lạ thường trong đời hiện tại, trăm ngàn muôn đời vị lai thường được thác sanh vào nhà tôn quý, thân hình xinh đẹp—Therefore, Universally Expansive, you should know that such beneficial deeds are performed by Earth Store Bodhisattva through use of his indescribable hundreds of thousands of ten thousands of millions of kinds of great and awesome spiritual powers. The living beings of Jambudvipa have strong affinities with this Great Knight, and if they hear the Bodhisattva’s name, see his image or hear but three or five words, a verse or sentence of this Sutra, they will obtain particularly wonderful peace and happiness in this present life. Through hundreds of thousands of ten thousands of future  lives, they will always be handsome or beautiful, and they will be born into honorable and wealthy families.

 

Khi nghe Ðức Phật Như Lai tuyên bày ngợi khen ngài Ðịa Tạng Ðại Sĩ  xong, ngài Phổ Quảng  Bồ Tát liền quỳ xuống chắp tay mà bạch Phật rằng: “Bạch Ðức Thế Tôn! Từ lâu con  đã biết rõ vị Ðại Sĩ nầy có thần lực cùng đại nguyện lực không thể nghĩ bàn như thế rồi, song nay vì muốn những chúng sanh trong đời sau nầy rõ biết  các sự lợi ích đó, nên con mới bạch hỏi cùng đức Như Lai. Vâng! Con xin cung kính tin nhận lời Phật dạy. Bạch Ðức Thế Tôn! Kinh nầy đặt tên là gì và định cho con lưu bố thế nào?”—At that time, after Universally Expansive Bodhisattva had heard the Buddha, the Thus Come One, extol and praise Earth Store Bodhisattva, he knelt with one knee on the ground, and placed his palms together, and again addressed the Buddha, saying: “World Honorable One,  have long known that this Great Knight has both such inconceivable spiritual powers and such great strength of vows. I have questioned  the ‘Thus Come One’ so that living beings in the future will know of these benefits, and I shall receive the answer most respectfully. World Honored One, how should this Sutra be titled and how should we propagate it?”

 

Ðức Phật bảo ngài Phổ Quảng Bồ Tát: “Kinh nầy có ba danh hiệu, một là Ðịa Tạng Bổn Nguyện Kinh, hai là Ðịa Tạng Bổn Hạnh Kinh, ba là Ðịa Tạng Bổn Thể Lực Kinh. Do vì ngài Ðịa Tạng Bồ Tát từ thuở kiếp lâu xa đến nay phát nguyện  rộng lớn làm lợi ích cho chúng sanh, cho nên các ông phải đúng theo tâm nguyện mà lưu hành truyền bá kinh nầy.”—The Budha said to Universally Expansive: “This Sutra has three titles, the first is The Past Vows Of Earth Store Bodhisatva; it is also called Earth Store’s Past Conduct; it is also called Sutra Of The Power Of Earth Store’s Past Vows. Because this Bodhisattva has made  such great and mighty vows over  long aeons to benefit livng beings, you should all propagate the Sutra in accord with his vows.”

 

Nghe Ðức Phật dạy xong, ngài Phổ Quảng  Bồ Tát tin chịu, chắp tay cung kính lễ Phật rồi lui ra—After Universally Expansive had heard this, he placed his palms together respectfully, make obeisance and withdrew.

 

 

CHƯƠNG THỨ BẢY—CHAPTER SEVEN

LỢI ÍCH CHO KẺ CÒN NGƯỜI MẤT—BENEFITTING THE LIVING AND THE DEAD

 

Lúc đó Ngài Ðịa Tạng Ðại Bồ Tát bạch cùng đức Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Con xem xét chúng sanh tâm động niệm không chi là chẳng phải tội. Nếu gặp những việc về pháp sự lợi lành phần nhiều thối thất tâm tốt ban đầu. Còn hoặc khi gặp duyên sư bạo ác chẳng lành lại lần lần thêm lớn. Những hạng người trên đó như kẻ mang đá nặng đi trong bùn lầy, càng nặng thêm và càng khốn khổ thêm, chân đạp lún lút sâu. Những người đó hoặc gặp hàng thiện tri thức đội dùm đá bớt cho, hoặc là đội dùm hết cả, vì hàng thiện tri thức đó có sức rất khỏe mạnh, lại dìu đỡ người ấy khuyên gắng làm cho người ấy mạnh chơn lên. Nếu khi ra khỏi bùn lầy đến chỗ đất bằng phẳng rồi thời cần phải xét nghĩ đến con đường hiểm xấu ấy, đừng có đi vào đó nữa—at that time Earth Store Bodhisattva Mahasattva, said to the Buddha: “World Honored One, I see that every single movement of stirring of thought on the part of living beings of Jambudvipa is an offense, and that those living beings discard the wholesome benefits they have obtained, many of them retreating from their initial resolve. If they encounter evil conditions, they increase with every thought. Such people are like a man carrying a heavy rock through the mud. It gradually becomes more difficult as the stone becomes heavier, and he sinks deeper with every step. He may meet a mentor who aids him to lessen his burden, or, because that mentor has great power, he may bear the entire burden. Moreover, he will assist  him and urge him to plant his feet firmly on the ground. If he reaches level ground he should remain aware of the evil road, and never traverse it again.    

 

Bạch đức Thế Tôn! Những chúng sanh quen theo thói ác, bắt đầu từ mảy mún rồi lần đến nhiều vô lượng. Ðến khi những chúng sanh quen theo thói chẳng lành ấy sắp sửa mạng chung, thời cha mẹ cùng thân quyến vì người đó mà tu tạo phước lành để giúp tiền đồ cho người đó. Hoặc treo phan lọng và thắp đèn dầu, hoặc chuyển đọc Tôn Kinh, hoặc cúng dường tượng Phật cùng hình tượng của các vị Thánh, cho đến niệm danh hiệu của Phật và Bồ Tát cùng Bích Chi Phật, làm cho một danh hiệu thấu vào lổ tai của người sắp mạng chung, hoặc là ở nơi bổn thức nghe biết—World Honored One! The habitual evil of living beings extends from the subtlety of a hair to an immeasurable degree. Since all beings have such habits, their parents or relatives should create blessings for them when they are on the verge of dying in order to assist them on the road ahead. This may be done by suspending banners and canopies, lighting oil lamps, reciting the venerated Sutras, or making offerings before the images of the Buddhas and the Sages; and by reciting the names of Buddhas, Bodhisattvas, and Pratyeka-buddhas so that the recitation of each name passes by the ear of the dying one or is heard in his fundamental consciousness.

 

Cứ theo nghiệp ác của người đó đã gây tạo, suy tính đến quả báo, thời đáng lẽ người đó phải bị đọa vào ác đạo, song nhờ thân quyến vì người đó mà tu nhơn duyên Thánh đạo, cho nên các điều tội ác của người đó thảy đều tiêu sạch. Như sau khi người đã chết, lại có thể trong bốn mươi chín ngày vì người ấy mà tu tạo nhiều phước lành, thời có thể làm cho người chết đó khỏi hẳn chốn ác đạo, được sanh lên cõi trời hoặc trong loài người hưởng lấy nhiều sự rất vui sướng, mà kẻ thân quyến hiện tại đó cũng được vô lượng điều lợi ích—The result of evil karma created by living beings may be reckoned as certain to make them fall into the evil destinies, yet if when they are near death, their relatives cultivate the planting of these sagely causes for them, their many offenses will all be destroyed. If within the period of forty-nine days after a person’s death, the relatives do many good deeds, that can cause the dead one to leave the evil paths forever, to be born among humans or gods, and to enjoy supremely wonderful bliss. The benefits that accrue to their current relatives are also unlimited.

 

Vì lẽ trên đó nên nay con đối trước đức Thế Tôn cùng với hàng Trời, Rồng, bát bộ chúng, người với phi nhân, vân vân mà có lời khuyên bảo những chúng sanh trong cõi Diêm Phù Ðề, ngày lâm chung, kẻ thân thuộc phải cẩn thận chớ có giết hại và chớ gây tạo nghiệp chẳng lành, cũng đừng tế lễ quỷ thần, hay cầu cúng ma quái. Vì sao thế?  Vì giết hại cho đến tế lễ đó, không có một mảy mún chi lợi ích cho người chết cả, chỉ có kết thêm tội duyên của người đó, làm cho càng thêm sâu nặng hơn thôi. Giả sử người chết đó hoặc là đời trước hay đời hiện tại vừa rồi, đã chứng được phần Thánh quả, sẽ sanh vào cõi Trời, người, nhưng bị vì lúc lâm chung, hàng thân thuộc gây tạo  những nghiệp nhơn không lành, cũng làm cho người chết đó mắc lấy ương lụy phải đối biện, chậm sanh vào chốn lành. Huống gì là người kia chết, lúc sanh tiền chưa từng làm được chút phước lành, đều theo ác nghiệp của họ gây tạo mà tự phải sa đọa vào ác đạo. Hàng thân thuộc nỡ nào lại làm cho tội nghiệp của người ấy nặng thêm! Cũng ví như, có người từ xứ xa đến, tuyệt lương thực đã ba ngày, đồ vật của người đó mang vác nặng hơn trăm cân, bỗng gặp kẻ lân cận lại gởi một ít đồ vật nữa, vì vậy mà người xứ xa đó càng phải khốn khổ nặng nề thêm—Therefore, before the Buddha, the World Honored One, as well as before the gods, dragons, and the rest of the eightfold dividion, both human and non-human, I now exhort the living beings of the Jambudvipa to be careful not to harm, kill or create evil conditions, or to worship or make sacrifices to ghosts, spirits, or seek anything from Wang Liang on the day of death. Why? The beings which you harm, kill, worship and make sacrifices to, do not even have a tiny hairs breadth of power with which to benefit those who have  perished. Such activities merely bind up the conditions of offense so that they grow ever deeper and more heavy. The dead one might be due to receive a sagely portion and be born among humans and gods in his next life or in the future, but because of the evil causes planted by  his relatives when he was close to death, he is further burdened by having to argue and plead his own case, so his rebirth in a good place is delayed. How much the more is this the case for a person on the verge of death who has not even planted a few good roots in this life. Everyone must personally undergo the evil destinies in accordance with his or her own deeds. It is even more unbearable when relatives add to those deeds. It is as if a man had been traveling from a distant place with a load of more than a hundred pounds and had been cut off from his provisions for three days. If he were suddenly  to encounter a neighbor who gave him a few more things to carry, his load would become heavier and more distressing.

 

Bạch đức Thế Tôn! Con xem xét những chúng sanh trong cõi Diêm Phù Ðề, ở nơi trong giáo pháp của Phật, nếu có thể làm việc phước lành cho đến chừng bằng sợi lông, giọt nước, bằng một hạt cát, một mảy bụi nhỏ, thời tất cả chúng sanh đó đều tự mình được lợi ích cả—World Honored One, as I contemplate the living beings of Jambudvipa, I see that they themselves will completely benefit from any good deed they are able to do within the Buddha’s teaching, even if it is as small as a strand of hair, a drop of water, a grain of sand or a mote of dust.

Khi nghe ngài Ðịa Tạng nói lời như thế xong, trong pháp hội có một vị trưởng giả tên là Ðại Biện. Ông trưởng giả nầy từ lâu đã chứng quả vô sanh hiện thân trưởng giả để hóa độ chúng sanh trong mười phương, ông chấp tay cung kính mà thưa hỏi ngài Ðịa Tạng Bồ Tát rằng: “Thưa Ðại Sĩ! Trong cõi Nam Diêm Phù Ðề có chúng sanh nào sau khi mạng chung, mà hàng quyến thuộc hoặc kẻ lớn người nhỏ, vì người chết đó mà tu các công đức, cho đến thiết trai cúng dường, làm những phước lành, thời người chết đó có được ích lợi lớn cùng được giải thoát chăng?”—After this had been said, an elder in the assembly whose name was Great Eloquent, who had long since certified to non-production, and who appeared in the body of an elder to teach and transform those in the ten directions, placed his palms together respectfully, and asked Earth Store Bodhisattva: “Great Knight, when the young and old relatives of the dead in Southern Jambudvipa cultivate meritorious virtues for the dead by preparing vegetarian meals and by planting other good causes, does the dead one benefit greatly and become liberated?”

 

Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát đáp rằng: “Này ông trưởng giả! Nay tôi vì tất cả chúng sanh trong hiện tại cùng thuở vị lai sau, nương nơi oai thần của đức Phật mà lược nói về việc đó. Nầy ông trưởng giả! Những chúng sanh ở hiện tại hay vị lai, lúc sắp mạng chung mà nghe danh hiệu của một vị Bồ Tát hay danh hiệu của một vị Bích Chi Phật, thời không luận là có tội cùng không tội đều được giải thoát cả—Earth Store replied: “Elder, based on the awesome power of the Buddha, I will now explain this matter, in a general way, for the sake of living beings of the present and future . Elder, if living beings of the present and future on the day when they are  approaching their end, hear the name of one Buddha, one Bodhisattva, or one Pratyeka-budha, they will all attain liberation whether they have offenses or not.

 

Như có người nam cùng người nữ nào lúc sanh tiền không tu tạo phước lành mà lại gây lấy những tội ác, sau khi người nầy mạng chung, hàng thân quyến kẻ lớn người nhỏ vì người chết mà tu tạo phước lợi, làm tất cả việc về Thánh đạo, thời trong bảy phần công đức người chết đặng một phần, còn sáu phần công đức thuộc về người thân quyến hiện lo tu tạo đó. Bởi vì cớ trên đây, nên những người thiện nam cùng thiện nữ ở hiện tại và vị lai, nghe lời nói vừa rồi đó nên cố gắng mà tu hành thời đặng hưởng trọn phần công đức—If a man or a woman who did not cultivate good causes and who has committed many offenses while alive, has young and old relatives who perform for their sake all kinds of holy deeds which create blessings and benefits for  them, hey will increase one-seventh of the benefit, and sixth-sevenths will accrue to those  who help them. Therefore, if all good men and women of the present and future hear this and do  their own cultivation while they are still in good health, each and every portion will accrue to them.  

 

Con quỷ dữ vô thường kia không hẹn mà đến, thần hồn vẫn mờ mịt chưa rõ là tội hay phước, trong bốn mươi chín ngày như ngây như điếc, hoặc ở tại các ty sở để biện luận về nghiệp quả, khi thẩm định xong thời cứ y theo nghiệp quả mà thọ lấy quả báo. Trong lúc mà chưa biết chắc ra làm sao đó thời đã ngàn muôn sầu khổ, huống là phải bị đọa vào các ác đạo—The arrival of the great ghost of impermanence is unexpected, so the spirit roams in the darkness and obscurity, not knowing what constitutes offenses and what constitutes blessings. For forty-nine days it is as if one were stunned and deaf, or as if in the courts arguing over one’s karmic retribution. Once judgment has been fixed, rebirth is undergone in accordance with one’s deeds. In the time before it has been determined, there is suffering of thousands of ten thousands of worries. How much more is that the case for those who are to fall into the evil paths.

 

Thần hồn người chết đó khi chưa được thọ sanh, ở trong bốn mươi chín ngày luôn luôn trông ngóng hàng cốt nhục thân quyến tu tạo phước lành để cứu vớt cho. Qua khỏi bốn mươi chín ngày thời cứ theo nghiệp mà thọ lấy quả báo. Người chết đó, nếu là kẻ có tội thời trải qua trong trăm ngàn năm không có ngày nào được thoát khỏi. Còn nếu là kẻ phạm năm tội vô gián thời phải đọa vào đại địa ngục chịu mãi những sự đau khổ trong ngàn kiếp muôn kiếp—Throughout the forty-nine days one whose life has ended  and who has not yet been reborn, in every thought hopes that all his flesh-and-blood relatives will earn blessings powerful enough to rescue him or her. At the end of that time, one undergoes retribution according to one’s karma. If one is an offender, one passes through a hundred thousand years without a day of being liberated. If one’s offenses  deserved Five-Ways Uninterrupted retribution, one falls into the great hells, where one undergoes constant suffering for offenses during thousands of ten thousands of aeons. 

 

Lại nữa, nầy ông trưởng giả! Sau khi những chúng sanh gây phạm tội nghiệp như thế mạng chung, hàng cốt nhục thân quyến có làm chay để giúp thêm phước lành cho người chết đó. Thời khi sắm sửa chưa rồi, cùng trong lúc đương làm chớ có đem nước gạo, lá rau, vân vân đổ vãi ra nơi đất, cho đến các thứ đồ ăn chưa cúng dường cho Phật cùng chư Tăng thời chẳng ăn trước. Nếu như ăn trái phép và không được tinh sạch kỹ lưỡng, thời người chết đó trọn không được mảy phước nào cả. Nếu có thể kỹ lưỡng giữ gìn tinh sạch đem dâng cúng cho Phật cùng Tăng, thời trong bảy phần công đức người chết hưởng được một phần. Nầy ông trưởng giả! Vì thế nên những chúng sanh trong cõi Diêm Phù Ðề, sau khi cha mẹ hay người thân quyến chết, nếu có thể làm chay cúng dường, chí tâm cầu khẩn thời những người như thế, kẻ còn lẫn người mất đều đặng lợi ích cả.”—After a living being with such karmic offenses dies, one’s flesh-and-blood relatives may prepare a vegetarian offering to aid one in one’ karmic path. In doing this, they should not throw rice-washing water or vegetable leaves on the ground during the preparation of the meal, or before it has been eaten; and all food that has not first been offered to the Buddha and Sangha must not be eaten. If there is a laxness or transgression in this matter, the deceased will not received any strength from it. If purity is vigorously maintained in making the offering to the Buddha and Sangha, the deceased will receive one-seventh of the merit. Therefore, elder, if the living beings of Jambudvipa make vegetarian offerings for their deceased fathers, mothes, and relatives and make earnest supplication on their behalf, it will benefit both the living and the dead. 

 

Lúc ngài Ðịa Tạng nói lời nầy tại cung trời Ðao Lợi có số ngàn muôn ức na do tha quỷ thần cõi Diêm Phù Ðề, đều phát tâm Bồ Ðề vô lượng. Ông trưởng giả Ðại Biện vui mừng vâng lời dạy, làm lễ mà lui ra—After this had been said, the thousands of ten thousands of millions of nayutas of ghosts and spirits of Jambudvipa who were in the palace of the trayastrimsha Heaven, all brought forth an unlimited resolve for Bodhi. The elder, Great Eloquence, made obeisance and withdrew.

 

 

CHƯƠNG THỨ TÁM—CHAPTER EIGHT

PHẨM NGỢI KHEN CỦA CÁC VUA DIÊM LA—THE PRAISES OF THE MULTITUDES OF KING YAMA

 

Lúc đó trong dãy núi Thiết Vi có vô lượng vị Quỷ Vương cùng với vua Diêm La đồng lên cung trời Ðao Lợi đến chỗ của Ðức Phật. Các vị Quỷ Vương đó tên là Ác Ðộc Quỷ Vương, Ða Ác Quỷ Vương, Ðại Tránh Quỷ Vương, Bạch Hổ Quỷ Vương, Huyết Hổ Quỷ Vương, Xích Hổ Quỷ Vương, Tán Ương Quỷ Vương, Phi Thân Quỷ Vương, Ðiển Quang Quỷ Vương, Lang Nha Quỷ Vương, Ðạm Thú Quỷ Vương, Phụ Thạch Quỷ Vương, Chủ Hao Quỷ Vương, Chủ Họa Quỷ Vương, Chủ Phước Quỷ Vương, Chủ Thực Quỷ Vương, Chủ Tài Quỷ Vương, Chủ Súc Quỷ Vương, Chủ Cầm Quỷ Vương, Chủ Thú Quỷ Vương, Chủ Mị Quỷ Vương, Chủ Sản Quỷ Vương, Chủ Mạng Quỷ Vương, Chủ Tật Quỷ Vương, Chủ Hiểm Quỷ Vương, Tam Mục Quỷ Vương, Tứ Mục Quỷ Vương, Ngũ Mục Quỷ Vương, Kỳ Lợi Thất Quỷ Vương, Ðại Kỳ Lợi Thất Quỷ Vương, Kỳ Lợi Xoa Quỷ Vương, Ðại Kỳ Lợi Xoa Quỷ Vương, A Na Tra Vương, Ðại A Na TraVương. Những đại Quỷ Vương như thế, vân vân, mỗi vị cùng với trăm ngàn Tiểu Quỷ Vương, cả thảy ở trong cõi Diêm Phù Ðề, đều có chức trách, đều có phần chủ trị—At that time from within the Iron Ring Mountain came to the god Yama, and with him limitless ghost kings, all of whom appeared before the Buddha in the Trayastrimsha Heaven: the Ghost King Evil Poison, the Ghost King Many Evils, the Ghost King Great Argument, the Ghost King White Tiger, the Ghost King Blood Tiger, the Ghost King Crimson Tiger, the Ghost King Who Brings Disasters, the Ghost King Flying Body, the Ghost King Lightning Flash, the Ghost King Wolf Tooth, the Ghost King Thousand Eyes, the Ghost King Animal Eater, the Ghost King Rock Bearer, the Ghost King Lord of Bad News, the Ghost King Lord of calamities, the Ghost King Lord of Food, the Ghost King Lord of Wealth, the Ghost King Lord of Domestic Animals, the Ghost King Lord of Birds, the Ghost King Lord of Beasts, the Ghost King Lord of Mountain Spirits, the Ghost King Lord of Birth, the Ghost King Lord of Life, the Ghost King Lord of Sickness, the Ghost King Lord of Danger, the Ghost King Three Eyes, the Ghost King Four Eyes, the Ghost King Five Eyes, Ch’i-Li-Ch’a King, the Great Ch’i-Li-Ch’a King, the No-Ch’a King, the Great No-Ch’a King, and other such great ghost kings. Each was there together with hundreds of thousands of minor ghost kings, who dwelt throughout Jambudvipa, each of whom had an attachment, something they controlled.  

 

Các vị Quỷ Vương đó cùng với vua Diêm La nương sức oai thần của đức Phật, và oai lực của ngài Ðịa Tạng đại Bồ Tát, đồng lên đến cung trời Ðao Lợi đứng qua một phía. Bấy giờ, vua Diêm La quỳ gối chắp tay bạch cùng đức Phật rằng: “Bạch Ðức Thế Tôn! Nay chúng con cùng các vị Quỷ Vương nương sức oai thần của đức Phật và oai lực của ngài Ðịa Tạng Bồ Tát mới được lên đến đại hội cung trời Ðao Lợi nầy, mà cũng là vì chúng con đặng phước lành vậy. Nay chúng con có chút việc nghi ngờ, dám bạch hỏi đức Thế Tôn, cúi xin đức Thế Tôn từ bi vì chúng con mà chỉ dạy cho.”—Aided by the Buddha’s awesome spirit and the power of Earth Store Bodhisattva Mahasattva, all these ghost kings, as well as the god Yama, came together in the Trayastrimsha heaven and stood off to one side. The god Yama, knelt on one knee, placed his palms together, and said to the Buddha: “World Honored One! Aided by the Buddha’s awaesome spirit and the power of Earth Store Bodhisattva, all these ghost kings and I have been able to come to this great assembly in the Trayastrimsha Heaven. There is now a small doubt that I should like to express, and I hope the World Honored One will be compassionate and resolve it.”

 

Ðức Phật bảo vua Diêm La rằng: “Cho phép ông hỏi, Ta sẽ vì ông mà dạy rõ.”—The Buddha told the god Yama: “As you will, I shall speak for you.”

 

Bấy giờ vua Diêm La chiêm ngưỡng đảnh lễ đức Thế Tôn và ngó ngoái lại Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát, rồi lại bạch cùng đức Phật rằng: “Con xem xét ngài Ðịa Tạng Bồ Tát ở trong sáu đường dùng trăm ngàn phương tiện để cứu độ những chúng sanh mắc phải tội khổ, ngài không từ mệt nhọc. Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát đây có những thần thông không thể nghĩ bàn được như thế, nhưng sao hàng chúng sanh vừa đặng thoát khỏi tội báo, không bao lâu lại phải bị đọa vào ác đạo nữa?—At that time, the god Yama, looked respectfully at the World Honored One, made obeisance, turned his head to acknowledge Earth Store Bodhisattva, and then said to the Buddha: “World Honored One! As I contemplate, I see that Earth Store Bodhisattva uses hundreds of thousands of expedient devices to take across living beings who suffer for their offenses within the six paths of birth, I see that he does so without the least fatigue or weariness. Such are the deeds that this great Bodhisattva performs with his inconceivable, spiritual penetrations; deeds that liberate living beings from retribution for their offenses. Nonetheless, before long, they fall back into their evil ways. 

 

Bạch đức Thế Tôn! Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát đã có thần lực chẳng thể nghĩ bàn như thế, nhưng tại vì cớ sao hàng chúng sanh chẳng chịu nương về đường lành để được giải thoát mãi mãi? Cúi xin đức Thế Tôn dạy rõ việc đó cho chúng con.”—World Honored One! Since Earth Store Bodhisattva has such great inconceivable spiritual power, why do living beings do not rely on it, stay with their good ways, and eternally hold to their liberation? Please, World Honored One, explain this for me.”

 

Ðức Phật bảo vua Diêm La rằng: “Chúng sanh trong cõi Diêm Phù Ðề tánh tình cứng cỏi khó dạy khó sửa. Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát đây trong trăm ngàn kiếp đã từng cứu vớt những chúng sanh đó làm cho sớm được giải thoát.”—The Buddha told the god Yama: “The living beings of Jambudvipa have stubborn and obstinate nature; difficult to tame and difficult to subdue. This great Bodhisattva time after time, rescue such living beings throughout hundreds of thousands of aeons, and causes them to obtain liberation quickly.”

Những người bị tội báo cho đến bị đọa vào đường ác lớn, ngài Ðịa Tạng Bồ Tát dùng sức phương tiện nhổ sạch cội gốc nghiệp duyên, mà làm cho chúng sanh đó nhớ biết những công việc ở đời trước. Tại vì chúng sanh trong cõi Diêm Phù Ðề kết nghiệp dữ, phạm tội nặng, nên vừa ra khỏi ác đạo, rồi trở vào lại, làm nhọc cho ngài Ðịa Tạng Bồ Tát phải trải qua nhiều số kiếp lo lắng để cứu độ cho họ—The Bodhisattva extricates from their own basic karmic conditions such people who must undergo retribution for their offenses, including those who have fallen into the paths of great evil, and then he leads them to understand the events of their past lives. The living beings of Jambudvipa naturally become bound up with heavy bad habits, which cause them to resolve in and out of the various paths. This Bodhisattva must labor for them over many long aeons to bring about their liberation.

 

Ví như có người quên mất nhà mình, đi lạc vào con đường hiểm, trong con đường hiểm đó có rất nhiều thứ quỷ Dạ Xoa, cùng hùm sói, sư tử, rắn độc, bò cạp. Người quên đường đó ở trong đường hiểm chừng giây lát nữa sẽ bị hại. Có một vị tri thức hiểu nhiều pháp thuật lạ, có thể trừ sự độc hại đó, cho đến có thể trừ quỷ Dạ Xoa, các loài ác độc, vân vân chợt gặp người quên lạc kia đang muốn đi thẳng vào con đường hiểm nạn, bèn vội bảo rằng: “Ô hay! Này ông kia! Có duyên sự gì mà vào con đường hiểm nạn nầy? Ông có pháp thuật lạ gì có thể ngăn trừ các sự độc hại chăng?”—They are like a man who becomes confused, loses his original home, and mistakenly  takes a dangerous path on which there are many yakshas, tigers, wolves, lions, serpents, and vipers. Such a confused person would be poisoned in an instant on that path. When a mentor with much understanding and many skills, who is good at counteracting all the noxious poisons of the yakshas and the others, suddenly encounters the confused man about  to enter the dangerous road, the mentor says to him: “Say! You fellow, why are you taking this road? What rare skills do you have to deal with all that poison.  

Người lạc đường đó, bỗng nghe lời hỏi trên mới rõ là đường hiểm nạn, bèn lui trở lại muốn ra khỏi đường hiểm nạn đó. Vị thiện tri thức ấy nắm tay dìu dắt, dẫn người lạc lối đó ra ngoài đường hiểm nạn, khỏi các sự độc hại đến nơi con đường tốt, làm cho được an ổn rồi bảo rằng: “Nầy người lạc đường! Từ nay về sau chớ có đi vào con đường hiểm nạn đó nữa, ai mà vào con đường hiểm đó, ắt khó ra khỏi đặng, lại còn phải bị tổn mạng.”—The confused traveler who suddenly hears such words then knows that it is dangerous path, and fitting to go back, so he seek for a way out. The good mentor then takes him by the hand and, avoiding all the noxious poisons, leads him off the dangerous path. They reach a good way and he become happy and at peace. His mentor then say to him: “Say! Confused one, from now on do go back onto that path, for those who take it, immediately find they have a difficult time getting out. Moreover, it is damaging to their very life.

 

Người lạc đường đó cũng sanh lòng cảm trọng. Lúc từ biệt nhau, vị tri thức lại dặn thêm: “Nếu ông có gặp kẻ quen người thân cùng những người đi đường, hoặc trai hay gái, thời ông bảo cho họ  biết con đường đó có rất nhiều sự độc hại vào đó ắt phải tổn tánh mạng, chớ để cho những người ấy tự vào chỗ chết!”—The confused traveler thanks him profuselty and as they are about to separate, the advisor, says to him: “If you see those whom you know personally, as well as other travelers, be they men or women, tell them that there are many poisons and evils on that path which can cause them to lose their very lives. Do not let that multitude seek their own deaths.”

 

Vì thế nên ngài Ðịa Tạng Bồ Tát đủ đức từ bi lớn, cứu vớt chúng sanh mắc tội khổ muốn cho họ sanh lên cõi trời cõi người để hưởng lấy sự vui sướng tốt đẹp. Những chúng sanh tội khổ đó rõ biết sự khốn khổ trong con đường ác nghiệp rồi, khi đã được ra khỏi, chẳng còn trở vào nữa—That is the reason Earth Store Bodhisattva, replete with great compassion, rescue living beings who suffer for their offenses and causes them to be born among humans and gods, where they enjoy wonderful bliss. All offenders, knowing the sufferings of the path of evil karma, obtain release and never travel it again.

 

Như người quên đường kia lạc vào đường hiểm, gặp vị thiện tri thức dẫn dắt cho ra khỏi không bao giờ còn lạc vào nữa. Gặp gỡ người khác lại bảo chớ vào đường ấy, tự nói rằng mình là quên đường nên đi lạc vào  đó, nay đặng thoát khỏi rồi, trọn hẳn không còn trở vào đường đó nữa. Nếu còn đi vào đường ấy nữa, thời là còn mê lầm không biết đó là con đường hiểm nạn mà mình đã từng sa lạc rồi, hoặc đến nỗi phải mất mạng . Như chúng sanh bị đọa vào chốn ác đạo, ngài Ðịa Tạng Bồ Tát dùng sức phương tiện cứu vớt cho được thoát khỏi, sanh vào cõi trời, rồi cũng vẫn trở vào ác đạo nữa. Nếu chúng sanh đó kết nghiệp ác quá nặng, thời ở mãi chốn địa ngục không lúc nào được thoát khỏi—They are like the lost person who mistakenly took a dangerous path but who, having encountered a good advisor who led him out, does not ever take that road again. Moreover, when he meets others, he urges them not to take it by saying ‘I took that road myself because I was confused, but having been liberated, I will not take it again. If I were to tread upon it again, I would still be lost and unaware that it was the dangerous path I had fallen upon before, and perhaps would lose my life.’ This is like those who have fallen into the evil paths and, because of  the powerful expedient devices of Earth Store Bodhisattva, are reform among men or gods, but then fall into the evil paths again. If one’s karmic bonds are heavy, one dwells in the hells forever, without liberation. 

 

Bấy giờ Ác Ðộc Quỷ Vương, chắp tay cung kính bạch cùng đức Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Chúng con là hàng Quỷ Vương số đông vô lượng, ở trong cõi Diêm Phù Ðề, hoặc có vị làm lợi ích cho người, hoặc có vị làm tổn hại cho người, mỗi mỗi đều không đồng nhau. Nhưng vì nghiệp báo khiến quyến thuộc chúng con đi qua thế giới ác nhiều lành ít. Ði qua sân nhà người, hoặc thành ấp, xóm làng, trại vườn, buồng nhà, trong đó như có người trai kẻ gái nào tu được chút phước lành bằng mảy lông sợi tóc, cho đến treo một lá phan, một bảo cái, chút hương, chút hoa cúng dường tượng Phật cùng tượng Bồ Tát, hoặc đọc tụng Tôn Kinh, đốt hương cúng dường một bài kệ một câu kinh, vân vân. Hàng Quỷ Vương chúng con cung kính làm lễ người đó như kính lễ các đức Phật thuở quá khứ, đương hiện tại, cùng lúc vị lai. Chúng con truyền các hàng Tiểu quỷ có oai lực lớn, và kẻ có phần chức trách  về cuộc đất đai đó, đều phải hộ trợ giữ gìn, còn chẳng cho việc dữ cùng sự tai nạn bất kỳ, bệnh tật hiểm nghèo thình lình, cho đến những việc không vừa ý đến gần chỗ của các nhà đó, huống là để vào cửa.”—At that time the Ghost King Evil Poison, placed his palms together respectfully, addressed the Buddha, and said: “World Honored One! We, the countless ghost kings of Jambudvipa, either benefit of harm beings. Each of us is different; such is our karmic retribution, which causes us and our followers to roam in the world doing much evil and little good. When we pass a household or a city, a town, village, or hamlet, a garden, cottage or hut, where there is a man or woman who has cultivated as little as a hair’s worth of good deeds, who has hung but one banner or one canopy, who has used little incense or a few flowers as offerings to images of Buddhas or Bodhisattvas, or who has recited the esteemed Sutras, or burned incense as an offering to even one sentence or gatha in them, we ghost kings will respect that person as we would the Buddha of the past, present and future. We will order the smaller ghosts, each of whom has great power, as well as the earth spirits to protect that person. Evil events, accidents, severe or unexpected illnesses as well as all other unwelcome situations will not be allowed  to draw near his dwelling or place of residence, much less enter the door.

 

Ðức Phật khen Quỷ Vương rằng: “Hay thay! Tốt thay! Các ông cùng vua Diêm La có thể ủng hộ kẻ thiện nam người thiện nữ như thế! Ta cũng truyền cho các vị trời Phạm Vương, Ðế Thích hộ vệ các ông.”—The Buddha praised the ghost kings: “It is excellent! Excellent! That all you ghost kings and Yama are able to protect good men and women in this way. I shall tell Lord Brahma and Lord Sakra to see that you are protected as well.”

 

Khi đức Phật nói lời ấy xong, trong pháp hội có một Quỷ Vương tên là Chủ Mạng bạch cùng đức Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Bổn nghiệp duyên  của con là cai quản về tuổi thọ của người trong cõi Diêm Phù Ðề, khi sanh khi tử con đều coi biết đó, cứ theo nơi bổn nguyện của con thời có lợi ích lớn cho mọi người. Nhưng tại vì chúng sanh không hiểu ý của con nên đến nỗi khi sanh khi tử đều không được an ổn. Tại làm sao thế?”—When this was said, a ghost king in the assembly named Lord of Lifespan, said to the Buddha: “World Honored One! The conditions of my past karma are such that I am Lord of Lifespan of Humans in Jambudvipa, and govern both the time of their birth and that of their death. My fundamental vows are based on a great desire to benefit humans, but living beings naturally do not understand my intent and all go through birth and death without finding peace. Why is this?”

 

Người trong cõi Diêm Phù Ðề lúc mới sanh, không luận là con trai hay con gái, khi sắp sanh ra chỉ nên làm việc phước lành thêm sự lợi ích cho nhà cửa, thời Thổ Ðịa vui mừng khôn xiết, ủng hộ cả mẹ lẫn con đều đặng  nhiều sự an vui, hàng thân quyến cũng được phước lợi. Hoặc khi đã hạ sanh rồi, nên cẩn thận chớ có giết hại sanh vật để lấy  những vị tươi ngon cung cấp cho người sản mẫu ăn, cùng nhóm họp cả hàng quyến thuộc lại để uống rượu ăn thịt, ca xang đờn sáo. Nếu làm những việc trên đó, có thể làm cho người mẹ và đứa con chẳng đặng an vui. Vì sao thế? Vì lúc sanh sản nguy hiểm đó có vô số loài quỷ dữ  cùng ma quái tinh mị muốn ăn huyết tanh. Nhờ có con sớm đã sai các vị Thần Linh xá trạch thổ địa, bảo hộ mẹ con người ấy, làm cho được an vui mà đặng nhiều sự lợi ích. Người ấy thấy mình được an ổn, thời đáng lẽ nên làm phước lành để đền đáp công ơn Thổ Ðịa, mà trái lại giết hại loài sinh vật, hội họp thân quyến, vì lẽ nầy, đã phạm tội lỗi tất phải tự thọ lấy tai vạ, mẹ con đều tổn—When humans in Jambudvipa have just borne children, be they boys or girls, or when they are just about to give birth, only good deeds should be done to increase the benefits of the household which will naturally cause the earth spirits to be immeasurably pleased. They will then benefit the entire family and protect the mother and child so that they obtain great peace and happiness. After the birth, all killing and injuring for the purpose of offering fresh foods to the mother should carefully be avoided, as should having large family gathering with wine-drinking, meat-eating, singing and playing of musical instruments. All these things can keep the mother and child from obtaining peace and happiness. Why? At the difficult time of birth, there are uncountable (innumerable) evil ghosts, such as Wang-Liang, goblins, and spirit-beings, who desire to eat the strong-smelling blood. I quickly order the local earth spirit of that household to bear the responsibility of protecting the mother and child, allowing them to be peaceful and happy and be blessed. Because people in such households see that they are peaceful and happy, the people do what is meritorious in response to the local earth spirits. If instead, they harm and kill, and have large family gatherings, they personally will undergo the misfortunes resulting from their offenses, and both mother and child will be harmed.

 

Lại người trong cõi Diêm Phù Ðề đến lúc mạng chung, không luận là người lành hay kẻ dữ, con cũng đều muốn cho họ không bị đọa vào chốn ác đạo. Huống gì là người lúc sanh tiền biết tu đạo cội phước lành giúp thêm oai lực cho con. Trong cõi Diêm Phù Ðề, những người làm lành đến lúc mạng chung cũng có trăm ngàn quỷ thần ác đạo hoặc biến ra hình cha mẹ, nhẫn đến hóa làm thân quyến dẫn dắt thần hồn người chết làm cho đọa lạc vào chốn ác đạo, huống chi là những kẻ lúc sanh tiền đã sẵn tạo nghiệp ác—Moreover, when the humans of Jambudvipa are on the verge of death, I desire to keep them from falling into the evil paths, regardless of whether they have done what is good or evil, but how much is this power of mine to do so increased when they have personally cultivated good roots! When a practicer (cultivator) of good in Jambudvipa is about to die, there are hundreds of thousands of ghosts and spirits from evil paths who may transform themselves and appear as the parents and relatives in an attempt to lead one who has perished, to fall into the evil paths. How much more is this the case for those who have done what is evil!

 

Bạch đức Thế Tôn! Những kẻ nam tử nữ nhơn ở cõi Diêm Phù Ðề, lúc lâm chung thời thần thức hôn mê không biện được lẽ lành điều dữ, cho đến mắt cùng tai không còn thấy nghe gì hết. Hàng thân quyến của người lâm chung đó, nên phải sắm sửa làm sự cúng dường lớn, tụng đọc Tôn Kinh, niệm danh hiệu của Phật và Bồ Tát, tu tạo nhơn duyên phúc lành như thế, có thể cho người chết thoát khỏi chốn ác đạo, các thứ ma, quỷ, ác thần thảy đều phải lui tan cả hết—Therefore, World Honored One! When a man or a woman in Jambudvipa is on the verge of death, and their consciousness and spirit are confused and dark, when they are unable to discriminate between good and evil, and their eyes and ears are unable to see or hear, all their relatives should certainly make great offerings, recite the holy sutras, or recite the names of Buddhas and Bodhisattvas. Such good conditions can cause the dead person to leave the evil paths, and all the demons, ghosts and spirits will withdraw and disperse.

 

Bạch đức Thế Tôn! Tất cả chúng sanh lúc lâm chung nếu đặng nghe  danh hiệu của một đức Phật, danh hiệu của một Bồ Tát, hoặc nghe một câu một bài kệ kinh điển đại thừa, con xem xét thấy hạng người ấy, trừ năm tội vô gián cùng tội sát hại, những nghiệp ác nho nhỏ đáng lẽ phải sa vào chốn ác đạo, liền đặng thoát cả.”—World Honored One! If at the time of death any living beings hears the name of one Buddha or Bodhisattva, or if one hears a sentence of gatha of a Mahayana Sutra, I see that such a person can be liberated  from his very small bad deeds, which unite to pull them into the evil paths, and can also be kept apart from uninterrupted retribution of the five offenses involving bodily harm and killing.

 

Ðức Phật bảo Chủ Mạng Quỷ Vương rằng: “Ông vì có lòng đại từ nên có thể phát ra lời nguyện lớn ở trong sanh tử cứu hộ  chúng sanh như thế. Như về trong đời sau nầy, có kẻ nam người nữ nào đến lúc mạng chung, ông chớ quên lãng lời nguyện trên đó, đều nên làm cho giải thoát mãi mãi được an vui.”—The Buddha told the ghost king Lord of Lifespan: “Because of your great compassion, you are able to make such great vows and protect all living beings in the midst of life and death. Should men or women in the future arrive at the period of their birth or their death, do not withdraw from your vow, but cause them all to be liberated and to attain eternal peace.”

 

Chủ Mạng Quỷ Vương bạch cùng Ðức Phật rằng: “Xin Ðức Thế Tôn chớ lo! Trọn đời của con luôn luôn ủng hộ chúng sanh ở cõi Diêm Phù Ðề lúc sanh lúc tử đều làm cho được an vui cả. Chỉ trông mong các chúng sanh trong lúc sanh cùng lúc tử, tin theo lời của con đã nói trên thời đều giải thoát đặng lợi ích lớn.”—The ghost king told the Buddha: “Please do not be concerned. Until the end of this life, I shall in every thought protect the living beings of Jambudvipa, both at the time of birth and at the time of death, so that they all obtain tranquility. I only wish that at the time of birth or of death, they will accept my words and have faith in them ; then there will be none who are not liberated and who do not obtain much benefit.”

 

Bấy giờ đức Phật bảo ngài Ðịa Tạng Bồ Tát rằng: “Vị đại Quỷ Vương cai quản về tuổi thọ của mọi người nầy từng trải qua trăm ngàn đời làm vị Quỷ Vương, ủng hộ chúng sanh trong lúc sanh cùng khi tử. Ðó là bực Bồ Tát Ðại Sĩ vì lòng từ bi phát nguyện hiện thân đại quỷ, chớ thực thời không phải quỷ. Quá một trăm bảy mươi kiếp về sau, ông sẽ thành Phật hiệu là Vô Tướng Như Lai, kiếp đó tên là An Lạc. Cõi nước tên là Tịnh Trụ, thọ mạng của đức Phật đó đến số kiếp không thể tính đếm được. Nầy Ðịa Tạng Bồ Tát! Những sự của vị đại Quỷ Vương đó không thể nghĩ bàn như thế, hàng Trời cùng người được vị ấy độ thoát cũng đến số không thể hạn lượng.”—At that time, the Buddha told Earth Store Bodhisattva: “This great ghost king, Lord of Lifespan, has already passed through hundreds of thousands of lives as a great ghost king, protecting living beings in both birth and death. Only because of this great being’s compassionate vows does he appear in the body of a great ghost king, for in reality he is not a ghost. After one hundred and seventy aeons have passed, he will acomplish Buddhahod. His kalpa will be called Happiness, and his world will be named Pure Dwelling. His name will be No Characteristics Thus Come One, and his lifespan will be incalculable aeons. Earth Store, the doings of this great ghost king are thus. They are inconceivable, and the people and gods whom he takes across are limitless.”  

 

 

CHƯƠNG THỨ CHÍN—CHAPTER NINE

PHẨM XƯNG DANH HIỆU CHƯ PHẬT—THE TITLES OF BUDDHAS

 

Lúc đó ngài Ðịa Tạng Bồ Tát bạch cùng đức Phật rằng: “Bạch Ðức Thế Tôn! Nay con vì chúng sanh trong đời sau mà phô bày sự lợi ích, làm cho trong vòng sanh tử đặng nhiều lợi ích lớn. Cúi xin đức Thế Tôn cho phép con nói đó.”—At that time, Earth Store Bodhisattva Mahasattva said to the Buddha: “World Honored One! I shall now proclaim a beneficial act  for the sake of living beings of the future, so that they may obtain great benefit in the midst of life and death. Please, World Honored One, hear my words.”

 

Ðức Phật bảo ngài Ðịa Tạng Bồ Tát rằng: “Nay ông muốn khởi lòng từ bi cứu vớt tất cả chúng sanh mắc phải tội khổ trong sáu đường, mà diễn nói sự chẳng thể nghĩ  bàn, bây giờ chính đã phải lúc, vậy ông nên nói ngay đi. Giả sử ông có thể sớm làm xong nguyện đó, dầu Ta có vào Niết Bàn, cũng không còn phải lo ngại gì đến tất cả chúng sanh ở hiện tại và vị lai nữa.”—The Buddha told Earth Store Bodhisattva: “With your great compassion you now wish to proclaim the inconceivable task of rescuing all those in the six paths who suffer for their offenses. Now is just the right time, but you should speak quickly, for I am about to enter Nirvana, and will allow you to complete your vow soon; and I shall not be worried about living beings of the present or future.”

 

Ngài Ðịa Tạng bạch cùng đức Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Vô lượng vô số kiếp về thuở quá khứ, có đức Phật ra đời quá khứ, có đức Phật ra đời hiệu là Vô Biên Thân Như Lai. Như có người nam người nữ nào nghe danh hiệu của đức Phật đây mà tạm thời sanh lòng cung kính, liền đặng siêu việt tội nặng sanh tử trong bốn mươi kiếp, huống là vẽ đắp hình tượng cúng dường tán thán! Người nầy được vô lượng vô biên phước lợi—Earth Store Bodhisattva said to the Buddha: “World Honored One! In the past, numberless (innumerable) asmkheyas of kalpas ago, a Buddha named Boundless BodyThus Come One, appeared in the world. If a man or woman hears this Buddha’s name and even temporarily gives rise to a thought of respect, that person will overstep the heavy offenses of forty aeons of birth and death. How much more will one be able to do this one sculpts or paints this Buddha’s image, or praises and makes offering to him. The merit achieved is limitless and unbounded. 

 

Lại hằng hà sa số kiếp về thuở quá khứ, có đức Phật ra đời hiệu là Bửu Thắng Như Lai. Như có người nam người nữ nào được nghe danh hiệu của đức Phật đây, phát tâm quy-y với Phật trong khoảng khảy móng tay, người nầy trọn hẳn không còn thối chuyển nơi đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác—Furthermore, in the past, as many aeons ago as there are grains of sand in the Ganges River, a Buddha named Jewel Nature Thus Come One appeared in the world. If a man or woman hears the name of this Buddha and in the space of a finger-snap decides to take refuge, that person will never retreat from the unsurpassed path.

 

Lại về thuở quá khứ, có đức Phật ra đời hiệu là Ba Ðầu Ma Thắng Như Lai. Như có người nam người nữ nào, nghe danh hiệu của đức Phật đây thoát qua lỗ tai, người nầy sẽ được một ngàn lần sanh lên sáu tầng trời dục giới, huống nữa là chí tâm xưng niệm!—Furthermore, in the past, a Buddha named Padma Victory Thus Come One appeared  in the world. If a man or woman hears this Buddha’s name, as it passes through his or her ear faculty, that person will be reborn one thousand times in the six desire heavens. How much more will this be true if he or she sincerely recites the name of that Thus Come One.

 

Lại bất khả thuyết bất khả thuyết vô số kiếp về thuở quá khứ , có đức Phật ra đời hiệu là Sư Tử Hống Như Lai. Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của đức Phật đây, mà phát tâm quy-y chừng trong một niệm, người nầy sẽ đặng gặp vô lượng các đức Phật xoa đảnh thọ ký cho—Furthermore, in the past, indescribable asamkheyas of aeons ago, a Buddha named Lion’s Roar Thus Come One appeared in the world. If a man or woman hears this Buddha’s name and in a single thought takes refuge, that person will encounter numberless  (innumerable) Buddhas, who will rub the crown of his or her head and bestow a prediction of enlightenment upon the individual.  

 

Lại về thuở quá khứ, có đức Phật ra đời hiệu là Câu Lưu Tôn Như Lai. Như có người nam người nữ nào nghe danh hiệu của đức Phật đây, chí tâm chiêm ngưỡng lễ bái, hoặc tán thán, người nầy nơi pháp hội của một ngàn đức Phật trong Hiền Kiếp làm vị Ðại Phạm Vương, đặng Phật thọ ký đạo Vô thượng cho—Furthermore, in the past, a Buddha named Krakucchanda appeared in the world. If a man or woman hears this Buddha’s name and sincerely beholds, worships, or praises him, that person will become the king of the Greay Brahma Heaven in the assemblies of the one thousand Buddhas of the Worthy Aeon, and will there receive a superior prediction. 

 

Lại về thuở quá khứ có đức Phật ra đời hiệu là Tỳ Bà Thi Như Lai. Như có người nam người nữ nào nghe được danh hiệu của đức Phật đây, thời mãi không còn sa đọa vào chốn ác đạo, thường được sanh vào chốn trời người, hưởng lấy sự vui thù thắng vi diệu—Furthermore, in the past, a Buddha named Vipashin appeared  in the world. If a man or woman hears this Buddha’s name, that person will eternally avoid falling into the evil paths and will always be born among people or gods, and will experience unsurpassed bliss.

 

Lại vô lượng vô số hằng hà sa kiếp về thuở quá khứ có đức Phật ra đời hiệu là Ða Bửu Như Lai. Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của đức Phật đạy, sanh lòng cung kính, không bao lâu người ấy sẽ đặng quả A La Hán—Furthermore, in the past, a Buddha named Jeweled Apearance Thus Come One appeared in the world. If a man or woman hears this Buddha’s name and gives rise to a thought of respect, that person will, before long, attain the fruit of Arhatship. 

 

Lại vô lượng vô số kiếp về thuở quá khứ có đức Phật ra đời hiệu là Ca Sà Tràng Như Lai. Như có người nam người nữ nào nghe được danh hiệu của đức Phật đây, thời người nầy sẽ siêu thoát tội sanh tử trong một trăm đại kiếp—Furthermore, limitless asamkheyas of aeons ago, a Buddha named Kashaya Banner Thus Come One appeared in the world. If a man or woman hears this Buddha’s name, that person will overcome the offenses of birth and death for one hundred great aeons.

 

Lại về thuở quá khứ có đức Phật ra đời hiệu là Ðại Thông Sơn Vương Như Lai. Như có người nam người nữ nào nghe được danh hiệu của đức Phật đây, thời người nầy đặng gặp hằng hà chư Phật nói nhiều pháp mầu cho, đều đặng thành đạo Bồ Ðề—Furthermore, in the past, a Buddha named Great Penetration Mountain King Thus Come One appeared in the world. If a man or woman hears this Buddha’s name, that person will encounter as many Buddhas as there are grains of sand in the Ganges, who will speak Dharma extensively for that person, and that person will certainly realize Bodhi.

 

Lại về thuở quá khứ, có các đức Phật Tịnh Nguyệt Phật, đức Sơn Vương Phật, đức Trí Thắng Phật, đức Tịnh Danh Vương Phật, đức Trí Thành Tựu Phật, đức Vô Thượng Phật, đức Diệu Thinh Paht, đức Mãn Nguyệt Phật, đức Nguyệt Diện Phật, có bất khả thuyết đức Phật Thế Tôn như thế . Tất cả chúng sanh trong thời  hiện tại cùng thuở vị lai, hoặc là trời, người, hoặc là nam, hoặc người nữ chỉ niệm danh hiệu của một đức Phật thôi thời sẽ đặng vô lượng công đức, huống nữa là niệm được nhiều danh hiệu. Những chúng sanh đó lúc sanh lúc tử đặng nhiều phước lợi, không còn phải đọa vào ác đạo nữa—Furthermore, in the past, there were Buddhas named Pure Moon Buddha, Mountain King Buddha, Wise Victory Buddha, Pure Name King Buddha, Accomplished Wisdom Budha, Unsurpassed Buddha, Wonderful Sound Buddha, Full Moon Buddha, Moon-Face Buddha, and other such indescribable Buddhas. World Honored One, living beings of the present and future, whether gods or humans, men or women, will obtain limitless meritorious virtues by merely reciting one Buddha’s name. How much the more if they recite many names. At the time of birth and that of death, all these living beings will personally obtain great benefit, and will never fall into the evil paths. 

 

Như có người nào sắp mạng chung, hàng thân quyến trong nhà nhẫn đến một người vì người bệnh sắp chết đó mà niệm lớn tiếng danh hiệu của một đức Phật, thời người chết đó, trừ năm tội lớn vô gián, các nghiệp báo khác đều tiêu sạch cả. Năm tội lớn vô gián kia dầu rất nặng nề đáng lẽ trải qua ức kiếp hẳn không ra khỏi đặng quả khổ, nhưng bởi lúc lâm chung, nhờ người khác vì đó mà xưng niệm danh hiệu của Phật nên những tội nặng đó cũng lần lần tiêu sạch. Huống là chúng sanh tự mình xưng danh hiệu của chư Phật, người nầy đặng vô lượng phước lành, trừ diệt vô lượng khổ—If anyone in a dying person’s family loudly recites one Buddha’s name for the sake of the dying person, the karmic retribution of the dying person will be totally eradicated except for the uninterrupted retribution resulting from the five offenses. The five offenses warranting uninterrupted retribution are so extremely heavy that one who commits them does not escape retribution for myriads of aeons. If, however, at the time of the offender’s death, another person recites the names of Buddhas on that person's behalf, that person's offenses can be gradually wiped away. How much  more will this be true for living beings who recite those names  themselves. Their merit is limitless and eradicates measureless (without measure) offenses.  

 

Kinh Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện—Hết Quyển Trung—This is the end of the second roll of the Sutra of The Past Vows Of The Earth Store Bodhisattva.

Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Pháp (3 lần)—Namo Eternally Dwelling Dharma of the ten directions (3 times).

Nam Mô Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần)—Namo Earth Store Bodhisattva Mahasattva (3 times).

 

 

CHƯƠNG THỨ MƯỜI—CHAPTER TEN

SO SÁNH NHƠN DUYÊN CÔNG ÐỨC CỦA SỰ BỐ THÍ—THE CONDITIONS AND COMPARATIVE MERITS AND VIRTUES OF GIVING

 

Lúc đó ngài Ðịa Tạng Bồ Tát Ma ha Tát nương oai thần của đức Phật, từ chỗ ngồi đứng dậy, quỳ gối chắp tay bạch cùng đức Thế Tôn rằng: “Bạch Thế Tôn ! Con xem xét chúng sanh trong nghiệp đạo so sánh về sự bố thí có nhẹ có nặng. Có người hưởng phước trong một đời, có người hưởng phước trong mười đời, hoặc đến  hưởng phước lợi lớn trong trăm đời, ngàn đời. Những sự ấy tại làm sao thế? Cúi xin đức  Thế Tôn dạy cho.”—At that time, Earth Store Bodhisattva Mahasattva, inspired by the Buddha awesome spirit, arose from his seat, knelt on one knee, placed his palms together and said to the Buddha: “World Honored One! When I compare the acts of giving of beings in their karmic paths, I see some that are great and some that are small. So some receive blessings for one life, some for ten lives, and some receive great blessings and benefit for one hundred or one thousand lives. Why is it? Please World Honored One, explain this for me.”

 

Bấy giờ đức Phật bảo ngài Ðịa Tạng rằng: “Nay ta ở trong toàn thể chúng hội nơi cung trời Ðao Lợi nầy, giảng về sự so sánh công đức khinh trọng của việc bố thí ở Diệm Phù Ðề. Ông lắng nghe, Ta sẽ vì ông mà nói!”—At that time the Buddha told Earth Store Bodhisattva: “In all the many assemblies at the palace of the Trayastrimsha Heaven, I will discuss the comparative meritorious virtues of the great and small acts of giving done by the living beings in Jambudvipa. Listen attentive to what I say to you.”

 

Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát bạch Phật: “Chính con nghi ngờ việc ấy. Con xin ưa muốn nghe.”—Earth Store said to the Buddha: “I have had doubts about this matter and will be pleased to listen.”

 

Ðức Phật bảo ngài Ðịa Tạng Bồ Tát rằng: “Trong cõi Nam Diêm Phù Ðề có các vị Quốc Vương, hàng Tể Phụ quan chức lớn, hàng đại trưởng giả, hàng đại Sát Ðế Lợi, hàng đại Bà La Môn, , vân vân. Nếu gặp kẻ hết sức nghèo túng, nhẫn đến kẻ tật nguyền câm ngọng, kẻ điếc ngây mù quáng, gặp những hạng người thân thể không được vẹn toàn như thế. Lúc các vị Quốc Vương đó, vân vân muốn bố thí , nếu có thể đủ từ tâm từ bi lớn, lại có lòng vui vẻ tự hạ mình, tự tay mình đem của ra bố thí cho tất cả những kẻ đó, hoặc bảo người khác đem cho, lại dùng lời ôn hòa dịu dàng an ủi. Các vị Quốc Vương, Ðại Thần đó, vân vân đặng phước lợi bằng phước lợi công đức cúng dường cho trăm hằng hà sa chư Phật vậy. Tại làm sao? Chính bởi vị Quốc Vương  đó vân vân, phát tâm đại từ bi đối với kẻ rất mực  nghèo cùng và với những người tàn tật kia, cho nên phước lành được hưởng quả báo như thế nầy, trong trăm ngàn đời thường được đầy đủ những đồ thất bảo, huống là những thứ để thọ dùng như y phục, đồ uống ăn, vân vân—The Buddha told Earth Store Bodhisattva: “In Jambudvipa, the kings of countries, noble men, great minister, great elder, great Kshatriyas, great Brahmans and others may encounter the most inferior and poor people, or those with various handicaps such as being hunchbacked, crippled, dumb, mute, deaf, retarded or eyeless (blind). When those kings and other king and other wish to give, they may be able to replete with great compassion, a humble heart and a smile. They may everywhere give personally with their own hands or arrange for other to do so, using gentle words and sympathetic speech. Such kings and others will obtain blessings and benefits comparable to the meritorious  virtue of giving to as many Budhas as there are grains of sand in one hundred Ganges Rivers. Why is this? Because of having shown a great compassionate heart toward the most impoverished, inferior and handicapped individuals, the kings and others will receive such a reward. For one hundred thousand lives, they will always have an abundance of the seven gems, not to mention clothing, food, and the necessities of life.”  

 

Lại nữa, nầy Ðịa Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, như có vị Quốc Vương cho đến hàng Bà La Môn vân vân, gặp chùa tháp thờ Phật, hoặc hình tượng Phật, cho đến hình tượng  Bồ Tát, Thanh Văn hay Bích Chi Phật, đích thân tự sửa sang, cúng dường bố thí. Vị Quốc Vương đó sẽ đặng trong ba kiếp làm vị trời Ðế Thích hưởng sự vui sướng tốt lạ. Nếu có thể đem phước lành bố thí đó mà hồi hướng cho tất cả chúng sanh trong pháp giới, thời vị Quốc Vương đó, trong mười kiếp thường được làm vị trời Ðại Phạm Thiên Vương—Moreover, Earth Store, if in the future, the kings, Brahmans and the others encounter Buddha stupas, monasteries, or images of Buddhas, Bodhisattvas, Sravakas, or Pratyeka-Buddhas and personally  make offerings or give gifts, the kings and other will obtain three aeons as Lord Sharka and will enjoy supremely  wonderful bliss. If they are able to transfer the blessing and benefits of that giving and dedicate it to the Dharma Realm, those great kings and others will be great Brahma Heaven Kings for ten aeons. 

 

Lại thế nầy nữa, nầy Ðịa Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, nếu có vị Quốc Vương cho đến hàng Bà La Môn, vân vân gặp chùa tháp của Ðức Phật thuở trước, hoặc là kinh điển hay hình tượng bị hư sụp rách rã, liền có thể phát tâm tu bổ lại. Vị Quốc Vương đó, hoặc tự mình đích thân lo sửa sang, hoặc khuyên hóa người khác cho đến khuyến hóa trăm ngàn người khác cùng chung bố thí cúng dường để kết duyên lành. Vị Quốc Vương đó, trong trăm ngàn đời thường làm vua Chuyển Luân, còn những người khác chung cùng làm việc bố thí đó, trong trăm ngàn đời thường làm vua nước nhỏ. Nếu lại ở trước chùa tháp có thể phát tâm đem công đức cúng dường bố thí đó mà hồi hướng về đạo vô thượng chánh giác, dược như vậy thời vị Quốc Vương đó cho đến tất cả mọi người đều sẽ thành Phật cả, bởi quả báo ấy rộng lớn vô lượng vô biên—Moreover, Earth Store, in the future, the kings, Brahmans, and others may encounter ruined, decayed, broken and tumbledown, stupas, temples, or images of previous Buddhas, and be capable of resolving to restore them. They may then do so themselves or encourage others, as many as a hundred thousand people, to make offerings and thereby establish affinities. Those kings and the others will become Wheel-Turning Kings throughout a hundred thousand continuous lives and those others who make offerings with them, will be kings od small countries for a gundred thousand continuous lives. If, before the stupa or monastery, they are in addition, able to resolve to transfer and dedicate the merit, such kings and the other people will without exception, accomplish the Buddha Path, and their reward for this will be limitless and unbounded.  

 

Lại vầy nữa, nầy Ðịa Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, như có vị Quốc Vương hay hàng Bà La Môn, gặp những người già yếu bệnh tật, và kẻ phụ nữ sanh đẻ, nếu trong khoảng chừng một niệm sanh lòng từ lớn đem thuốc men, cơm nước, giường chiếu bố thí, làm cho những kẻ ấy được an vui. Phước đức đó rất không thể nghĩ bàn đến được, trong một trăm kiếp, thường làm vua trời Tịnh Cư, trong hai trăm kiếp thường làm vua sáu tầng trời cõi Dục, không bao giờ còn đọa vào ác đạo, cho đến trong trăm ngàn đời, lỗ tai không hề nghe đến tiếng khổ, rốt ráo thành Phật đạo—Moreover! Earth Store in the future the kings, Bahmans and others are filled with great compassion for the direction of a single thought upon seeing the old, the sick, or women in childbirth and provided them with medicinal herbs, food, drink and bedding so as to make them peaceful  and comfortable, the blessings and benefits of such activities are quite inconceivable. For one thousand aeons they will constantly be lords of the Pure Dwelling Heaven; for two hundred aeons, they will be lords in the Desire Heaven, and they wil ultimately attain Buddhahood. They wil never fall into the evil paths and for one hundred thousand lives, they will hear no sounds of suffering.  

 

Lại vầy nữa, nầy Ðịa Tạng Bồ Tát! Trong đời sau như có vị Quốc Vương và Bà La Môn, có thể làm những việc bố thí như thế sẽ đặng vô lượng phước lành. Nếu có thể đem phước đức đó hồi hướng đạo Bồ Ðề, thời không luận là nhiều hay ít, rốt ráo sẽ thành Phật cả, huống gì là những quả trời Phạm Vương, trời Ðế Thích, vua Chuyển Luân. Nầy Ðịa Tạng Bồ Tát, vì thế nên khuyến hóa tất cả chúng sanh đều phải học theo như thế—Moreover, Earth Store Bodhisattva! If in the future, the kings, Brahmans, and others can give in this way, they will receive limitless blesings. If they are in addition, able to dedicate that merit, be it great or small, they will ultimately attain Buddhahood. How much more easily will they be able to attain the rewards of becoming Sakra, Brahma, or Wheel-Turning King, Therefore, Earth Store, you should urge living beings everywhere to learn to perform such actions. 

 

Lại vầy nữa, nầy Ðịa Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, như có thiện nam kẻ thiện nữ nào ở trong Phật pháp mà gieo trồng chút ít cội phước lành chừng bằng cái lông, sợi tóc, hạt cát, mảy bụi, phước lợi của những người đó sẽ hưởng thọ không thể ví dụ thế nào cho được—Moreover, Earth Store, in the future if there are good men or good women who plant within the Buddhadharma, a few good roots, equivalent to no more than a hair or a grain of sand, a mote of dust, the blessings and benefits they will receive will be beyond compare.

 

Lại vầy nữa, Ðịa Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, như có kẻ thiện nam cùng thiện nữ nào gặp hình tượng Phật, hình tượng Bồ Tát, hình tượng Bích Chi Phật, hình tượng vua Chuyển Luân mà bố thí cúng dường, thời đặng vô lượng phước lành, thường sanh ở cõi người, cõi trời hưởng sự vui thù thắng vi diệu—Moreover, Earth Store, good men and women in the future may encounter the image of a Buddha, Bodhisattva, Pratyeka-buddha, or Wheel-Turning King, and may give gifts or make offerings, will always be born among humans or gods and enjoy supremely wonderful bliss. If they can dedicate that merit to the Dharma Realm, their blessings and benefits will be beyond compare.

 

Lại vầy nữa, nầy Ðịa Tạng Bồ Tát!  Trong đời sau, như kẻ thiện nam người thiện nữ nào gặp kinh điển Ðại Thừa hoặc nghe thấy một bài kệ, một câu kinh, rồi phát tâm ân cần trân trọng cung kính ngợi khen, bố thí cúng dường, người ấy được quả báo lớn vô lượng vô biên. Nếu có thể đem phước đức hồi hướng cho khắp pháp giới chúng sanh thời phước lợi nầy không thể ví dụ thế nào cho được—Moreover, Earth Store, good men or women in the future encounter a great Vehicle Sutra, and on hearing a single gatha or sentence of it, with dynamic and respectful resolve, praise, venerate and make offerings, those people will attain great, limitless and unbounded rewards. If they can dedicate that merit to the Dharma Realm, their blessings will be beyond compare.    

 

Lại vầy nữa, nầy Ðịa Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, như có kẻ thiện nam người thiện nữ nào gặp chùa tháp và kinh điển Ðại Thừa, nếu là kin tháp mới thời bố thí cúng dường, chiêm ngưỡng lễ lạy ngợi khen, chắp tay cung kính. Nếu gặp kinh tháp cũ, hoặc hư rách thời sửa sang tu bổ, hoặc riêng mình phát tâm làm, hoặc khuyến người khác cùng đồng phát tâm. Những người cùng đồng phát tâm đây, trong ba mươi đời thường làm vua các nước nhỏ. Còn vị đàn việt chánh đó thường làm vua Chuyển Luân, lại dùng pháp lành mà giáo hóa vua các nước nhỏ—Moreover, Earth Store, if in the future good men or good women encounter new Buddha-stupas, temples, or sutras of the Great Vehicle, and make offerings to them, gaze at them in worship, and respectfully make praises with joined palms; or if they encounter old temples, stupas, or those that have been destroyed or damaged, and either repair or rebuild them, such people will be kings of small countries throughout thirty continuous lives. The Danapatti will always be Wheel-Turning Kings, who moreover, will use the good Dharma to teach and transform those minor kings of small countries. 

 

Lại vầy nữa, nầy Ðịa Tạng Bồ Tát! Trong đời sau như có người thiện nam thiện nữ nào ở nơi cội phước lành đã gieo trồng trong Phật pháp, hoặc là bố thí cúng dường, hoặc là tu bổ chùa tháp, hoặc sửa sang kinh điển, cho đến chừng bằng một sợi lông, một mảy bụi, một hạt cát, một giọt nước. Những sự lành như thế, không luận nhiều hay ít, chỉ có thể đem hồi hướng cho khắp pháp giới chúng sanh, thời công đức của người đó trong trăm ngàn đời thường hưởng thọ sự vui thượng diệu. Còn như chỉ hồi hướng cho thân quyến trong nhà hoặc tự mình được lợi ích thôi, như thế thời  sẽ hưởng quả vui tong ba đời, cứ làm một phần sự lành, thời được hưởng báo tốt một muôn lần trội hơn. Nầy Ðịa Tạng Bồ Tát! Những nhơn duyên công đức về sự bố thí như thế đó—Moreover, Earth Store, in the future, good men or good women may plant good roots in the Buddhadharma by making offerings, reparing stupas or monasteries, rebinding sutras, or they may plant  good roots only as small as one strand of hair, one mote of dust, a grain of sand, or a drop of  water. Merely by transfering the merit from such deeds to the Dharma Realm, those people’s meritorious virtues  will be such that they will enjoy superior and wonderful bliss for one hundred thousand lives. If they dedicate the merit only to their own family or relatives, or to their own personal benefit, as a result, they will enjoy the bliss for three lives. By giving up one , a ten thousandfold reward is obtained. Therefore, Earth Store, such are the situations pertaining to the causes and conditions of giving.”

 

 

CHƯƠNG THỨ MƯỜI MỘT—CHAPTER ELEVEN

PHẨM ÐỊA THẦN HỘ PHÁP—THE DHARMA PROTECTION OF AN EARTH SPIRIT

 

Lúc đó vị Kiên Lao Ðịa Thần bạch cùng đức Thế Tôn!: “Bạch đức Thế Tôn! Từ trước đến nay, con từng chiêm ngưỡng đảnh lễ vô lượng vị đại Bồ Tát, đều là những bực trí huệ thần thông lớn không thể nghĩ bàn, độ khắp mọi loài chúng sanh. Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát đây so với các vị Bồ Tát, chỗ thệ nguyện rất là sâu rộng. Bạch đức Thế Tôn! Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát đây có nhơn duyên lớn với chúng sanh trong Diêm Phù Ðề. Như ngài Văn Thù Sư Lợi, ngài Phổ Hiền, ngài Quán AÂm, ngài Di Lặc, cũng hóa hiện trăm ngàn thân hình để độ chúng sanh trong sáu đường, nhưng chỗ phát nguyện của các ngài còn có lúc hoàn mãn. Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát đây phát thệ nguyện giáo hóa tất cả chúng sanh trong sáu đường trải đến kiếp số như số cát trong trăm ngàn ức sông Hằng.”—At that time, the earth spirit Firm and Stable spoke to the Buddha and said: “World Honored One! From long ago, I have personally beheld and bowed to limitless numbers of Bodhisattvas Mahasattvas, all of whom have inconceivable and great spiritual penetrations and wisdom, and all of whom take across many living beings. Among all the Bodhisattvas, Earth Store Bodhisattva Mahasattva, has deep and weighty (solid) vows. World Honored One! Earth Store Bodhisattva has great affinities in Jambudvipa. Likewise, Manjusri, Samantabhadra, Avalokitesvara, and Maitreya, also produce by transformation, hundreds of thousands of bodies to take across those in the six paths, yet their vows have an end. Earth Store Bodhisattva has made these vows to teach and transform all living beings in the six paths throughout aeons as many as the number of sand grains in hundreds of thousands of millions of Ganges Rivers.

 

Bạch đức Thế Tôn! Con xem xét chúng sanh ở hiện tại nay và về vị lai sau nầy, nơi chỗ sạch sẽ ở phương nam trong cuộc đất của mình ở, dùng đất đá tre gỗ mà dựng cất cái khám cái thất. Trong đó có thể họa vẽ, cho đến dùng vàng , bạc, đồng, sắt đúc nắn hình tượng Ðịa Tạng Bồ Tát, đốt hương cúng dường, chiêm lễ ngợi khen, thời chỗ người đó ở được mười điều lợi ích. Những gì là mười điều?—World Honored One! As I regard the living beings of the present and future, I see those who make shrines of clay, stone, bamboo, or wood and set them on pure ground in the southern part of their dwellings. They place within the shrines an image of Earth Store Bodhisattva, either sculpted, painted, or made of gold, silver, copper, or iron. They then burn incense, make offerings, behold, worship, and praise him. Such people will receive ten kinds of benefits. What are these ten?

·         Một là đất cát tốt mầu—First, their lands will be fertile.

·         Hai là nhà cửa an ổn mãi mãi—Second, their families and homes will always be peaceful.

·         Ba là người đã chết được sanh lên cõi trời—Third, their deceased ancestors will be born in the heavens.

·         Bốn là những người hiện còn hưởng sự lợi ích—Fourth, those still alive will have benefit and will have their lifespan increased.

·         Năm là cầu chi cũng toại ý cả—Fifth, they will obtain what they want.

·         Sáu là không có tai họa về nước và lửa—Sixth, they will not encounter the disasters of water and fire.

·         Bảy là trừ sạch việc hư hao—Seventh, they will avoid unforeseen calamities.

·         Tám là dứt hẳn ác mộng—Eighth, their nightmares will cease.

·         Chín là khi ra lúc vào có thần theo hộ vệ—Ninth, they will be protected by spirits during their comings and goings.

·         Mười là thường gặp bậc Thánh Nhơn—Tenth, they will encounter many causes of Sagehood.

 

Bạch đức Thế Tôn! Chúng sanh trong đời sau cùng hiện tại nay, nếu ở phần đất của mình cư trú mà có thể làm ra sự cúng dường ngài Ðịa Tạng như thế, thời được sự lợi ích như vậy—World Honored One! Living beings of the present and future will obtain these benefits if in part of their dwellings they can make offerings in the prescribed manner.

 

Vị Kiên Lao Ðịa Thần lại bạch với đức Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Trong đời sau nầy, như có người thiện nam thiện nữ nào ở trong chỗ của mình cư trú mà có kinh điển nầy cùng hình tượng của ngài Ðịa Tạng Bồ Tát, người đó lại có thể đọc tụng kinh điển nầy và cúng dường hình tượng Bồ Tát. Thời con dùng thần lực của con thường hộ vệ người đó, cho đến tất cả sự tai họa như nước, lửa, trộm, cướp, nạn lớn, nạn nhỏ, vân vân thảy đều tiêu sạch.”—The Earth spirit continued to speak to the Buddha: “World Honored One! If good men and good women in the future keep this sutra and an image of the Bodhisattva where they live, and if in addition, they recite the sutra and make offerings to the Bodhisattva, I shall constantly use my own spiritual powers to guard and protect them day and night so that evil occurrences, floods, fire, robbery, great calamities and small accidents will be eliminated.”

 

Ðức Phật bảo Kiên Lao Ðịa Thần rằng: “Thần lực rộng lớn của ông, các thần khác ít ai bằng. Vì cớ sao? Vì đất đai trong cõi Diêm Phù Ðề đều nhờ ông hộ trợ, cho đến cỏ cây, cát đá, lúa mè, tre lau, gạo thóc, của báu, tất cả những thứ từ đất mà có ra đều nhờ nơi sức thần của ông cả. Nay ông lại tuyên bày những sự lợi ích của ngài Ðịa Tạng Bồ Tát, thời công đức và thần thông của ông lại càng thêm trăm ngàn lần trội hơn lúc thường—The Buddha told the earth spirit Firm and Stable: “There are few spirits who can match your great spiritual powers. Why? All the lands in Jambudvipa receive your protection; all the grasses, woods, sands, stones, paddy fields, hemp, bamboo, reeds, grains, rice, and gems come forth from the ground because of your power. Moreover, your praise of the beneficial deeds of Earth Store Bodhisattva makes your meritorious virtues and spiritual penetations hundreds of thousands of times those of ordinary earth spirits.

 

Nầy Ðịa Thần! Trong đời sau, như có kẻ thiện nam người thiện nữ nào cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát cùng đọc tụng kinh điển nầy, chỉ có thế tu hành theo một việc mà trong kinh ‘Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện’ đã dạy. Thời ông nên dùng thần lực của ông mà ủng hộ người đó, chớ để tất cả sự tai hại cùng sự không vừa ý đến nghe nơi tai, huống nữa là để cho phải chịu. Chẳng phải chỉ riêng mình ông hộ trì người đó, cũng có hàng quyến thuộc của Phạm Vương, Ðế Thích, quyến thuộc của chư Thiên ủng hộ người đó. Tại sao lại đặng  các vị Hiền Thánh ủng hộ như thế? Ðều do vì những người ấy chiêm lễ hình tượng của Ðịa Tạng Bồ Tát và đọc tụng kinh Bổn Nguyện nầy, tự nhiên được rốt ráo xa lìa biển khổ chứng đạo Niết Bàn an vui, vì thế nên đặng ủng hộ một cách lớn lao như thế.”—If good men or good women in the future make offerings to this Bodhisattva, or recite the Sutra of the Past Vows of Earth Store Bodhisattva, and rely upon merely a single aspect of it in their cultivation, you should use your own spiritual powers to protect them and not allow any disastrous or unwelcome affairs even to be heard, much less undergone by them. Not only will those people be protected by you alone, the retinues of Sakra, Brahma, as well as the other gods, shall also protect them. Why will they obtain protection from worthies and sage such as these? It is all because of their having beheld and worshipped the image of earth Store Bodhisattva, and from having recited this Sutra of his past vows. They shall naturally leave the sea of suffering and ultimately be certified as having attained the bliss of Nirvana. These are the reasons that they receive such great protection.

 

 

CHƯƠNG THỨ MƯỜI HAI—CHAPTER TWELVE

PHẨM THẤY NGHE ÐƯỢC LỢI ÍCH—THE BENEFITS FROM SEEING AND HEARING

 

Lúc đó từ trên đảnh muôn đức Thế Tôn phóng ra cả trăm ngàn muôn ức tia sáng lớn, như là tia sáng sắc trắng, tia sáng sắc trắng lớn, tia sáng lành tốt, tia sáng lành tốt lớn, tia sáng ngọc, tia sáng ngọc lớn, tia sáng sắc tía, tia sáng sắc tía lớntia sáng sắc xanh, tia sáng sắc xanh lớn, tia sáng sắc biếc, tia sáng sắc biếc lớn, tia sáng sắc hồng, tia sáng sắc hồng lớn, tia sáng sắc lục, tia sáng sắc lục lớn, tia sáng sắc vàng y, tia sáng sắc vàng y lớn, tia sáng mây lành, tia sáng mây lành lớn, tia sáng tướng ngàn vòng tròn, tia sáng tướng ngàn vòng tròn lớn, tia sáng vòng tròn báu, tia sáng vòng tròn báu lớn, tia sáng vầng mặt trời, tia sáng vầng mặt trời lớn, tia sáng vầng mặt trăng, tia sáng vầng mặt trăng lớn, tia sáng tướng cung điện, tia sáng tướng cung điện lớn, tia sáng tướng mây biển, tia sáng tướng mây biển lớn—At that time the World Honored One emitted hundreds of thousands of ten thousands of millions of great rays of light from the door at the crown of his head, the white ray, the great white ray, the auspicious ray, the great auspicious ray, the jade ray, the great jade ray, the purple ray, the great purple ray, the blue ray, the great blue ray, the azure ray, the great azure ray, the red ray, the great red ray, the green ray, the great green ray, the gold ray, the great gold ray, the celebration cloud ray, the great celebration cloud ray, the thousand-wheel ray, the great thousand-wheel ray, the jeweled wheel ray, the great jeweled wheel ray, the solar disc ray, the great solar disc ray, the lunar disc ray, the great lunar disc ray, the palace ray, the great palace ray, the ocean cloud ray, and the great ocean cloud ray.

 

Từ trên đảnh môn phóng ra những luồn tia sáng như thế xong, lại nói ra những tiếng rất vi diệu mà bảo đại chúng rằng: “Nầy tám bộ chúng trời, rồng, người cùng phi nhơn, vân vân. Lắng nghe hôm nay Ta ở lại cung trời Ðao Lợi tuyên bày ngợi khen những sự lợi ích trong hàng trời người, những sự không thể nghĩ bàn, những sự về nhơn hạnh lên bậc Thánh, những sự chứng quả Thập Ðịa, những sự rốt ráo không lui sụt nơi đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác của ngài Ðịa Tạng Bồ Tát—After emitting such rays of light from the door at the crown of his head, he spoke in subtle and wonderful sounds to the great assembly of gods, dragons and other members of the eightfold division and to humans, non-humans and others: “Hear me today in the palace of the Trayastrimsha Heaven as I praise Earth Store Bodhisattva’s beneficial and inconceivable deeds among humans and gods, his transcendent deeds which planted the causes of his Sagehood, his certification to the Tenth Ground, and his ultimate irreversibility (irreversible status) from Anuttara-samyak-sambodhi.

 

Lúc đức Phật nói lời trên đó vừa dứt tiếng, trong pháp hội có một vị đại Bồ Tát hiệu là Quán Thế AÂm từ chỗ ngồi đứng dậy, quỳ gối chắp tay mà bạch cùng đức Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát đầy đủ các đức từ bi lớn, ngài thương xót chúng sanh mắc tội khổ, ở trong muôn ngàn ức thế giới, ngài hóa hiện ra muôn ngàn ức thân bao nhiêu công đức và sức oai thần chẳng thể nghĩ bàn của ngài, con đã từng nghe đức Thế Tôn  cùng vô lượng chư Phật trong mười phương, khác miệng đồng lời ngợi khen ngài Ðịa Tạng Bồ Tát. Dầu cho các đức Phật trong thuở quá khứ, thuở hiện tại và thuở vị lai nói công đức của ngài Ðịa Tạng Bồ Tát vẫn chẳng thể nói hết. Vừa rồi lại được đức Thế Tôn bảo khắp trong đại chúng rằng đức Phật muốn tuyên nói các sự lợi ích của ngài Ðịa Tạng Bồ Tát. Cúi mong đức Thế Tôn vì tất cả chúng sanh ở hiện tại và vị lai  mà tuyên nói những sự chẳng thể nghĩ bàn của ngài Ðịa Tạng Bồ Tát, làm cho tám bộ chúng trời, rồng, vân vân chiêm ngưỡng lễ lạy ngài Ðịa Tạng Bồ Tát để đặng phước lành—As this was said, in the midst of the assembly a Bodhisattva Manhasattva, named Contemplator of the World’s Sounds arose from his seat, , knelt on one knee, and with palms together said to the Buddha: “World Honored One! Earth Store Bodhisattva Mahasattva, is replete with great compassion and pity living beings who suffer for their offenses. With his meritorious virtues and inconceivable and awesome spiritual powers, in thousands of ten thousands of millions of worlds he creates thousands of ten thousands of millions of transformation bodies. I have heard the World Honored One and the numbers of Buddhas of the ten directions praise Earth Store Bodhisattva with different mouths but the same sound, saying that even if all the Buddhas of the past, present, and future were to speak of his meritorious qualities, they still could not finish speaking of them. Moreover, I am such obliged that I was previously able to hear the World Honored One tell the great assembly that he wished to praise Earth Store Bodhisattva’s beneficial acts. World Honored One, for the sake of living beings of the present and future, please praise Earth Store Bodhisattva’s inconceivable deeds, that cause the gods, dragons and the others of the eightfold division to gaze in worship and attain blessing.”  

 

Ðức Phật bảo ngài Quán Thế AÂm Bồ Tát: “Ông có nhơn duyên rất lớn với chúng sanh trong cõi Ta Bà. Nhưng hàng trời, rồng, hoặc nam tử nữ nhôn, hoặc thần, hoặc quỷ, cho đến chúng sanh mắc phải tội khổ trong sáu đường nếu kẻ nào nghe danh hiệu của ông, thấy hình tượng của ông, hay mến tưởng đến ông cùng khen ngợi ông. Thời những chúng sanh ấy đều ở nơi đạo vô thượng chánh giác quyết chẳng còn thối chuyển, thường được sanh vào cõi người, cõi trời hưởng được sự vui vi diệu, khi nhơn quả sắp thành thục liền được Phật thọ ký cho. Nay ông sẳn lòng từ bi lớn thương xót các loài chúng sanh và tám bộ chúng trời, rồng, vân vân mà muốn nghe Ta nói những sự lợi ích chẳng thể nghĩ bàn của ngài Ðịa Tạng Bồ Tát. Ông nên lắng nghe cho kỹ, nay ta sẽ nói đó!”—The Buddha replied to the Bodhisattva Contemplator of the World’s Sounds: “You have great affinity with the Saha World. If gods, dragons, men, women, spirits, ghosts or any other beings who suffer for offenses within the six paths hear your name, see your name, yearn for you or praise you, they will definitely become irreversible (be bound irreversibly) in the Unsurpassed Way. They will always be born among people and gods and there fully experience wondeful bliss. When the fruit of their causes is about to ripen, they will encounter Budhas and be given their predictions of enlightenment. You now are replete with great compassion and pity for living beings, for gods, dragons and the others of the eightfold division. Listen as I proclaim Earth Store Bodhisattva’s inconceivable, beneficial deeds. Listen attentively, I will now talk about it.” 

 

Ngài Quán Thế AÂm Bồ Tát bạch rằng: “Vâng! Bạch đức Thế Tôn! Con xin ưa muốn nghe.”—The Contemplator of the World’s Sounds said: “So be it, World Honored One, I will be please to hear.”

 

Ðức Phật bảo ngài Quán Thế AÂm Bồ Tát: “Trong các thế giới về thuở hiện tại nay và vị lai sau, có vị trời nào, hưởng phước trời đã mãn, năm tướng suy hao hiện ra nơi thân, hoặc có kẻ phải đọa lạc nơi chốn ác đạo. Các vị trời đó, hoặc nam hoặc nữ đương lúc tướng suy hao hiện, hoặc thấy hình tượng của ngài Ðịa Tạng Bồ Tát, hoặc nghe tên ngài Ðịa Tạng Bồ Tát, rồi một lần chiêm ngưỡng một lần đảnh lễ. Thời các vị trời đó càng thêm lớn phước trời, hưởng sự vui sướng rất nhiều, không bao giờ còn phải đọa lạc vào ba ác đạo nữa. Huống chi là những người thấy hình tượng Bồ Tát, nghe danh hiệu Bồ Tát rồi đem các thứ hương hoa, đồ y phục, đồ ăn uống, vật báu, chuỗi ngọc, vân vân mà bố thí cúng dường, thời người nầy đặng vô lượng vô biên công đức phước lợi—The Buddha told the Bodhisattva Contemplator of the World’s Sounds: “In the worlds  in the present and future, there are and will be gods whose heavenly blessings have ended, who manifest the five signs of decay, and who may be about to fall into the evil paths. When those signs appear, if those gods, whether male or female, see Earth Store Bodhisattva’s image, hear his name, gaze at him or bow once to him, they will increase their  heavenly blessings, experience great happiness, and never fall into the retributions of the three evil paths. How much more will limitless, boundless meritorious qualities, blessings and benefits accrue to those who see and hear the Bodhisattva and make offerings of flowers, clothing, food, drink, jewels and necklaces.   

 

Lại vầy nữa, nầy Quán Thế AÂm Bồ Tát! Trong các thế giới về thuở hiện tại nay và vị lai sau nầy, những hàng chúng sanh trong sáu đường, như có kẻ sắp mạng chung mà đặng nghe một tiếng danh hiệu của ngài Ðịa Tạng Bồ Tát thoáng qua lỗ tai, thời kẻ mạng chung đó không còn bị đọa vào chốn khổ ba ác đạo. Huống chi là lúc sắp mạng chung, cha mẹ cùng hàng thân quyến đem của cải, nhà cửa, vật báu, y phục, vân vân của người sắp mạng chung  đó mà làm của chi phí để tô đắp hay họa vẽ hình tượng của ngài Ðịa Tạng Bồ Tát. Rồi làm cho người bịnh lúc chưa chết, hoặc mắt thấy tai nghe biết rằng hàng thân quyến  đem nhà cửa vật báu, vân vân vì mình mà tô vẽ hình tượng Bồ Tát. Người bệnh đó nếu có nghiệp báo thời phải mang lấy bệnh nặng, thời nhờ công đức nầy liền được lành mạnh, tuổi thọ thêm lâu. Còn nếu người bệnh đó có nghiệp báo số mạng đã hết, lại có đủ tất cả tội chướng nghiệp chướng, đáng lẽ phải bị đọa vào chốn ác đạo, song vì nhờ công đức nầy nên sau khi mạng chung, liền được sanh vào cõi trời, cõi người hưởng quả vui thù thắng vi diệu tất cả tội chướng thảy đều tiêu sạch—Moreover, Contemplator of the World’s Sounds, if living beings in the six paths, in the worlds in the present and future, when they are on the verge of death, hear the name of Earth Store Bodhisattva pass through their ear a single time, they will never endure the sufferings of the three evil paths, how much more will this be true if when they are on the verge of death, the parents and relatives use the dying person’s houses, wealth, jewels and clothing to commission the carving or painting of Earth Store Bodhisattva’s image. Or if that sick person has not yet died and sees or hear and understands that, on his behalf, relatives have used his house, jewels and so forth for the carving or painting of Earth Store Bodhisattva’s image, by receiving that merit, he may quickly  be cured and his lifespan prolonged, even if his karmic retribution is such that he should have undergone severe sickness. If that person’s retribution is such that his life is at an end and because of all manner of offense-obstacles and karmic obstructions, he should fall into the evil paths because of receiving such merit he will be born among humans and gods, and there enjoy extremely wonderful bliss. All his obstacles due to offenses will be eradicated.  

 

Lâi vầy nữa, nầy Quán Thế AÂm Bồ Tát! Về đời sau, nếu có kẻ nam người nữ nào, hoặc lúc còn bú mớm, hoặc lúc lên ba tuổi, hoặc lúc lên năm tuổi, mười tuổi trở xuống mà chết mất cha mẹ cho đến chết mất anh em chị em. Ðến khi người đó khôn lớn nhớ tưởng đến cha mẹ cùng hàng thân quyến không rõ đọa lạc vào chốn nào, hay sang về thế giới nào, hoặc sanh lên cõi trời nào? Người đó như có thể tô vẽ hình tượng của Ðịa Tạng Bồ Tát, nhẫn đến nghe danh hiệu của ngài một lần  chiêm ngưỡng một lần đảnh lễ, từ một ngày cho đến bảy ngày, đừng thối thất tâm ban đầu, nghe danh hiệu thấy hình tượng chiêm lễ cúng dường. Thời quyến thuộc đã sớm khuất của người đó nếu do ác nghiệp mà bị đọa vào ác đạo tính ra phải chịu đến số kiếp, nay nhờ công đức tô vẽ hình tượng của ngài Ðịa Tạng Bồ Tát và chiêm lễ cúng dường của con cái, hay của anh em chị em, nên liền đặng giải thoát, được sanh lên  cõi trời cõi người hưởng quả vui thù thắng vi diệu. Còn như quyến thuộc đã sớm khuất của người đó có phước lành, đã sanh lên cõi trời cõi người hưởng thọ quả vui thù thắng vi diệu rồi, thời nhờ công đức nầy càng thêm lớn nghiệp nhơn về bực Thánh, hưởng vô lượng quả vui. Như người đó lại có thể trong hai mươi mốt ngày, chuyên lòng chiêm lễ hình tượng của ngài Ðịa tạng Bồ Tát và niệm lấy danh hiệu  của ngài đủ số một muôn biến, sẽ đặng Ðịa Tạng Bồ Tát hiện vô biên thân, mách cho người đó rõ nơi cõi của hàng thân quyến sớm khuất kia đã sanh về. Hoặc trong giấc mộng , Ðịa Tạng Bồ Tát hiện sức thần thông lớn, tự dắt người đó đến các thế giới thấy hàng quyến thuộc. Nếu người đó lại có thể mỗi ngày niệm danh hiệu  của Bồ Tát một muôn ngàn biến luôn đến một ngàn ngày. Thời người đó sẽ được Bồ Tát sai các vị Quỷ Thần ở tại chỗ đó hộ vệ trọn đời, hiện đời đồ ăn món mặc dư dật, không có các thứ bệnh khổ, cho đến các tai vạ còn không hề vào đến cửa, huống nữa là đến nơi thân. Rốt ráo rồi người đó được ngài Ðịa Tạng Bồ Tát xoa đảnh thọ ký—Moreover, Contemplator of the World’s Sounds Bodhisattva, in the future a man or woman may lose father, mother, brothers, or sisters while he or she is still an infant or three years old, or five years old, or under ten years of age. When fully grown the person may think of these parents and relatives but not know into what path or world or heaven they have been born. If that person is able to sculpt or paint an image of Earth Store Bodhisattva, or even hear his name, or gaze upon, or worship him, and if that person can continue to do so from one through seven days, constantly hearing his name, seeing his image, gazing upon, worshiping, and making offerings without retreating from his initial resolve, then that person’s relatives will be liberated for many aeons. Even though their karma from the causes they have planted might be such as to cause them to fall into the evil paths for kalpas, they will quickly be reborn in the heavens, where they will receive supremely wonderful blis. These results come from receiving the meritorious virtues established by that son, daughter, brother, sister who sculpted or painted an image of Earth Store Bodhisattva and then gazed upon it and worshiped it. If that peson’s relatives have already been born in the heavens on the strength of their own blessings and are already experiencing supremely wonderful bliss, upon receiving this additional merit, the causes for their attaining Sagehood will increase, and they will experience limitless bliss. If in addition, that person is able to gaze upon and worship Earth Store Bodhisattva’s image single-mindedly during three weeks, reciting his name a full ten thousand times, the Bodhisattva may at that time, manifest a limitless body and tell that person all about the names of the worlds in which his relatives have been born. The Bodhisattva may manifest great spiritual power and personally lead him to those worlds in a dream to see his relatives. Moreover, if one is able to recite the Bodhisattva’s name one thousand times a day every day for one thousand days, the Bodhisattva will send the ghosts and be spirits in the vicinity of that person to guard and protect him for his entire life. In this world, his clothing and food will be abundant and he will have no suffering from sickness. No accidents wil occur in his house, much less affect him personally. Finally, the Bodhisattva wil rub the crown of his head and bestow a prediction of enlightenment upon him.       

 

Lại vầy nữa, nầy Quán Thế AÂm Bồ Tát! Về đời sau, như có kẻ thiện nam người thiện nữ nào muốn phát lòng từ rộng lớn để cứu độ tất cả chúng sanh, muốn tu đạo vô thượng chánh giác, muốn thoát khỏi tam giới. Những người đó thấy hình tượng và nghe danh hiệu của ngài Ðịa Tạng Bồ Tát, rồi chí tâm quy-y hoặc đem hương hoa, y phục, vật báu, đồ ăn uống, vân vân để cúng dường chiêm ngưỡng đảnh lễ thời chỗ nguyện cầu của kẻ thiện nam cùng thiện nữ đó mau được thành tựu không bao giờ bị chướng ngại—Moreover, Contemplator of the World’s Sounds Bodhisattva, if a good man or good woman  in the future wishes to give rise to the great compassionate thought of rescuing and taking across all living beings and wishes to cultivate unsurpassed Bodhi in order to leave the Triple World, and if that person sees Earth Store Bodhisattva'’ image, hears his name, and in his heart takes refuge with him, or using incense, flowers, clothing, jewels, food and drink, makes offerings to him and gazes at and worship him, that good man or good woman will have his wishes quickly realized and will never have any obstructions (obstacles).

 

Lại vầy nữa, nầy Quán Thế AÂm Bồ Tát! Trong đời sau, như có kẻ thiện nam, người thiện nữ nào muốn cầu trăm ngàn muôn ức sự về hiện tại cùng vị lai, thời chỉ nên quy-y chiêm ngưỡng đảnh lễ, cúng dường, ngợi khen hình tượng của ngài Ðịa Tạng Bồ Tát. Ðược như thế thời nguyện những chi và cầu những chi thảy đều thành tựu cả. Lại cầu mong Ðịa Tạng Bồ Tát vận đức từ bi rộng lớn ủng hộ mãi cho; người đó trong giấc chiêm bao liền đặng ngài Ðịa Tạng Bồ Tát xoa đảnh thọ ký—Moreover, Contemplator of the World’s Sounds Bodhisattva, if good men and women in the future wish to fulfill hundreds of thousands of ten thousands of millions of wishes and to succeed in as many undertaking in both the present and the future, they should simply take refuge with, gaze upon, worship, make oferings to, and praise the image of Earth Store Bodhisattva. In such a way, their wishes and what they seek will all be realized. Moreover, one may wish that Earth Store Bodisattva, replete with his great compassion, will offer eternal protection. That peson will then dream of the Bodhisattva rubing the crown of his head and bestowing a prediction of enlightenment.

 

Lại vầy nữa, nầy Quán Thế AÂm Bồ Tát! Trong đời sau, như có người thiện nam, kẻ thiện nữ nào sanh lòng rất trân trọng đối vời kinh điển Ðại Thừa, phát tâm bất tư nghì muốn đọc tụng kinh điển ấy. Dầu gặp đặng minh sư truyền dạy cho những người đó học tập, nhưng đọc rồi quên rồi, trải đến cả tháng cả năm vẫn không đọc tụng được. Những kẻ thiện nam thiện nữ đó vì có nghiệp chướng đời trước chưa trừ sạch, cho nên ở nơi kinh điển Ðại Thừa không có công năng đọc tụng. Những hạng  người nầy khi nghe danh hiệu của ngài Ðịa Tạng Bồ Tát, đem hết tâm cung kính bày tỏ với Bồ Tát, rồi dùng hương hoa, y phục, đồ ăn, tất cả đồ ngọa cụ, vân vân cúng dường hình tượng Bồ Tát. Dùng một chén nước trong để trước tượng Bồ Tát một ngày một đêm, sau đó cung kính chắp tay thỉnh để uống, xây mặt về hướng nam. Khi nước vào miệng phải chí tâm trịnh trọng, uống nước xong, phải cử ngũ tân, rượu thịt, tà dâm, vọng ngữ và các việc giết hại trong bảy ngày, hoặc hai mươi mốt ngày. Người thiện nam thiện nữ đó trong giấc chiêm bao thấy Ðịa Tạng Bồ Tát hiện thân vô biên rưới nước trên đảnh của người đó. Sau khi thức dậy, người đó liền đặng thông minh, một phen nghe đến kinh điển Ðại Thừa ấy liền sẽ nhớ mãi, không bao giờ còn quên một câu kệ nữa—Moreover, Contemplator of the World’s Sounds Bodhisattva, there may be good men and women in the future who have high regard for the Great Vehicle Sutras and make the inconceivable resolve to read them and to recite them from memory. Although they encounter an understanding master who instructs them so that they may become familiar with the texts, whatever they learn they forget in a short while, so that after months or years they are no longer able to read or recite them from memory. It is because this good man’s or good woman’s karmic obstructions from past lives have not yet been eradicated that he does not have the proper disposition for reading and reciting Sutras of the Great Vehicle. Upon hearing Earth StoreBodhisattva’s name or seeing his image, such people should wholly use their original minds and respectfully state their situation to the Bodhisattva. In addition, they should take incense, flowers, clothing, food and drink as well as all manner of playthings, and make offerings to the Bodhisattva. They should place a bowl of pure water before the Bodhisattva for one day and one night. Afterwards, placing their palms together, let them state their request and then drink the water while facing south. As the water is about to enter their mouths they should be particularly sincere and solemn. After drinking the water, they should abstain from the five plants of the family, wine, meat, sexual activity, and false speech, as well as killing and harming, for one to three weeks. In dreams, these good men and good women will all see Earth Store Bodhisattva manifesting a limitless body and annointing the crowns of their heads with water. When they awaken they will be endowed with keen intelligence. Should this Sutra then pass through their ear faculties one time, they will eternally remember it and never forget or lose a single sentence or verse.  

 

Lại vầy nữa, nầy Quán Thế AÂm Bồ Tát! Về trong đời sau, như có những người nào ăn mặc không đủ, cầu chi cũng không toại nguyện, hoặc thân nhiều tật bệnh, hoặc nhiều sự hưng suy, nhà cửa không yên ổn, quyến thuộc chia lìa, hoặc có sự tai vạ cứ đến khuấy nhiễu nơi thân luôn, trong giấc mộng thường phải kinh sợ. Những người như thế đó, khi nghe danh hiệu của ngài Ðịa Tạng Bồ Tát, thấy hình tượng của Ðịa Tạng Bồ Tát nên chí tâm cung kính niệm đủ một muôn biến, thời những sự không toại ý trên đó sẽ tiêu sạch lần lần, cho đến trong giấc mộng thảy đều an ổn vui vẻ—Moreover, Contemplator of the World’s Sounds Bodhisattva, if there are people in the future whose food and clothing are insufficient, who find their efforts thwarted, or who endure much sickness, and ill fortune, whose families are not peaceful, whose relatives are scattered, or who are bothered by unfortunate occurences, or who are often startled in their sleep by dreams, such people, upon hearing Earth Store’s name and seeing his image, should recite his name a full ten thousand times with extreme sincerity and respect. Those displeasing matters will gradually be eradicated and they will attain peace and happiness. Their food and clothing will be abundant and even if their dreams they will be peaceful and happy.  

 

Lại vầy nữa, nầy Quán Thế AÂm Bồ Tát! Về đời sau, nếu có người thiện nam thiện nữ nào, hoặc nhơn sự làm ăn, hoặc nhơn sự công chuyện tư, hoặc nhơn sự sanh cùng tử, hoặc nhơn việc gấp mà phải vào trong rừng núi, hay là qua sông vượt biển, hoặc gặp nước lụt lớn, hoặc đi ngang đường hiểm trở. Người ấy trước khi đi nên niệm danh hiệu của ngài Ðịa Tạng Bồ Tát một muôn biến, được thế thời đi qua nơi chốn nào cũng có các vị quỷ thần hộ vệ, lúc đi đứng, khi nằm ngồi, đều được an ổn vui vẻ luôn, cho đến dầu gặp loài hùm sói sư tử, vân vân nhưng tất cả thứ độc hại đều không thể phạm đến người đó được—Moreover, Contemplator of the World’s Sounds Bodhisattva, if good men or good women in the future must enter mountain forests, cross over rivers, seas or other large bodies of water, or if they must take dangerous routes either  for the sake of earning their own livelihood, or for public or personal affairs, or matters of life and death, or other urgent business, such people should first recite the name of Earth Store Bodhisattva ten thousand times. The ghosts and spirits of the lands they pass through will then guard and protect them in their walking , standing, sitting and lying down. The peace and happiness of those persons will constantly be preserved, so that even if they encounter tigers, wolves, lions or any other harmful or poisonous creatures, the creatures will be unable to harm them.

 

Ðức Phật bảo ngài Quán Thế AÂm Bồ Tát: “Ngài Ðịa Tạng Bồ Tát có nhơn duyên rất lớn với cõi Diêm Phù Ðề. Nếu nói về những sự mà các hàng chúng sanh thấy nghe tên của ngài Ðịa Tạng Bồ Tát được lợi ích, thời dầu có nói đến trong trăm ngàn kiếp cũng không hết được. Nầy Quán Thế AÂm Bồ Tát! Vì thế ông nên dùng thần lực mà truyền kinh nầy làm cho chúng sanh trong cõi Ta Bà đây mãi đến trăm ngàn kiếp được hưởng những sự an vui luôn—The Buddha told the Contemplator of the World’s Sounds Bodhisattva: “Earth Store Bodhisattva has great affinities with beings in Jambudvipa. Hundreds of thousands of aeons would not be time enough to describe the benefits derived by living beings who see this Bodhisattva and hear his name. Therefore, Contemplator of the World’s Sounds Bodhisattva, you should use your spiritual power to propagate this Sutra and to cause the living beings in the Saha World to receive peace and happiness always, throughout hundreds of thousands of ten thousands of aeons.”

 

Bấy giờ đức Thế Tôn liền nói kệ rằng—At that time the World Honored One spoke verses, saying:

Ta xem Ðịa Tạng sức oai thần

As I contemplate Earth Store’s awesome spiritual strength, 

Kiếp số hằng sa khó tỏ trần.

Speaking for aeons as many as Ganges sands would fail to describe it.

Thấy nghe, một niệm chiêm ngưỡng lễ,

To see, to hear, to worship for but one thought,

Trời người lợi ích sự không ngằn.

Bring endless benefit to gods and humans.

 

Hoặc Rồng, hoặc Thần, cùng nam nữ.

If a man’s or woman’s or a god’s or a dragon’s

Báo thân sẽ sa vào đường dữ,

Lifespan ends and he should fall into evil ways,

Chí tâm quy mạng Ðại Sĩ thân,

But, if with extreme sincerity he takes refuge with this Great Being,

Tuổi thọ thêm nhiều trừ tội dữ.

His lifespan will increase and his offenses will be wiped away.

 

Tuổi thơ chết mất mẹ cùng cha

Those who when young, lost their parents,

Huynh đệ chị em kẻ ruột rà

Brothers, sisters, or other kin,

Lớn khôn nghĩ đến đều không biết,

Whom they never knew while they were growing up,

Nẻo dữ đường lành ở đâu là?

And do not know what paths their spirits took?

Hoặc vẻ, hoặc tô hình Ðại Sĩ,

Should sculpt or paint an image of this Great Being,

Cảm thương chiêm lễ biệt chẳng đành,

With sincere regard gaze upon and worship him unceasingly,

Hăm mốt ngày luôn niệm danh hiệu.

And for twenty-one days recite his name.

Bồ Tát hiện thân đến bên mình.

The Bodhisattva will manifest a boundless body

Chỉ rành quyến thuộc ở nơi nào.

And show the realms in which the kin were born.

Dầu sa ác thú cũng mau ra.

Even if they’ve fallen into evil paths, they will soon find escape.

Nếu được không vui lòng kính ngưỡng,

If one is able to not retreat from one’s first resolve,

Thánh ký, Bồ Tát vuốt đầu trao.

The crown of one’s head will be rubbed, and a prediction of sagehood received.

 

Bồ Ðề Vô Thượng muốn tu hành

One who wishes to cultivate the unsurpassed Bodhi

Mong ra ba cõi khỏi tử sanh,

And leave behind the suffering of the Triple World,

Người nầy đã phát lòng bi lớn,

Having given rise to the great compassionate heart, 

Trước nên chiêm lễ hình Ðại Sĩ,

Should first gaze upon and worship the image of this Great Being,

Nghe tên quy-y đấng trọn lành,

Upon hearing his name, immediately taking refuge on Him,

Cúng dường cung kính phát lòng thành,

With respectfully sincere offerings,

Nghiệp chướng chẳng hề ngăn chướng đặng,

Karmic hindrances will never cover one over.

Bao nhiêu mong ước sớm viên thành.

Each wish on makes will quickly come to pass.

 

Có kẻ phát tâm tụng kinh sách,

One may resolve to read a sutra text,

Muốn độ chúng sanh khỏi tai ách.

Wishing to take confused sentient beings across to the other shore.

Dầu lập nguyện lớn chẳng nghĩ bàn,

But although making such an inconceivable  vow,

Ðọc rồi quên rồi luôn sót mất.

For whatever one reads is shortly thereafter forgotten.

Người nầy nghiệp chướng nó làm mê,

Because of karmic obstructions and delusions,

Học Ðại Thừa kinh khó mọi bề.

One cannot hold the Mahayana sutras in one’s mind.

Y phục, uống ăn các ngọa cụ,

Clothing, food, and all sorts of sleeping bags,

Cúng dường Ðịa Tạng với hương hoa,

To Earth Store Bodhisattva one should offer scents and flowers,

Dùng chén nước trong bày trước tượng,

Place a bowl of pure water before the Great Being,

Cách một ngày đêm bưng lấy uống,

Wait for one day and night, then drink the water,

Sanh lòng ân trọng cử ngũ tân,

Be diligent and respectfully and carefully avoid the pungent plants,

Rượu thịt, tà dâm cùng dối luống,

Both meat and wine, improper sex conduct and false speech,

Trong hăm mốt ngày chớ sát sanh,

For twenty-one days neither kill nor injure;

Chuyên lòng tưởng niệm Thượng Nhơn danh.

With extreme sincerity be mindful of the name of this Great Being.

Chiêm bao thấy rõ tôn dung hiện,

Then in a dream one will see His image,

Thức rồi liền đặng trí khôn lanh,

Once awake, obtain keenness of the ear faculty,

Ðại thừa kinh giáo nghe qua tai

So that when the teachings of Mahayna sutras are heard passing through one’s ear,

Ngàn vạn đời sau nhớ chẳng sai.

Throughout ten million lives, one will never forget them.

Chính nhờ Ðại Sĩ oai thần lớn,

Because the power of this Great Being is inconceivable,

Thầm giúp người kia có huệ tài.

It can cause such a person to obtain this wisdom.

 

Chúng sanh nghèo khổ lại ốm đau,

If poverty-stricken beings, plagued with disease,

Cửa nhà hoạn họa, người lìa nhau,

Whose homes are troubled, whose relatives are scattered,

Ngủ mê mộng mị không an giấc,

Who aren’t at peace, even in sleep or dreams,

Cầu muốn hỏng hư chẳng được nào!

Whose efforts are thwarted, so they can’t carry out their wishes,

Dốc lòng chiêm lễ ngài Ðịa Tạng,

Gaze upon and worship Earth Store’s image with utmost sincerity,

Bao nhiêu việc ác thảy tiêu ngay,

All the evil deeds will be wiped away,

Nhẫn đến chiêm bao đều an cả,

Even their dreams will be totally peaceful,

Quỷ Thần phò hộ, của dư xài.

Their food and clothing will be plentiful, and God and ghosts will protect them.

 

Muốn qua sông biển, đến núi rừng,

Those who wish to travel in mountain forests, across rivers ot seas,

Cầm thú độc nguy, giặc đón đường,

Or among poisonous or evil birds and beasts, or evil people;

Ác Thần, ác quỷ, mưa gió dữ,

Among evil ghosts, and spirits, and also evil winds,

Nhiều nỗi gian nan khốn không lường,

So many kinds of troublesome disturbances,

Sắp sửa ra đi đối trước tượng,

To an image of Earth Store Bodhisattva, the Great Being,

Cúng dường kính lễ cùng chiêm ngưỡng.

Need only gaze in worship and make offerings.

Núi rừng biển cả có vào trong,

In such a way, within the mountain forests, and on the great seas,

Ác tai tiêu sạch thường an sướng.

All evil should thereby be destroyed.

 

Quán AÂm lắng nghe ta nói rõ,

Avalokitesvara, listen with extreme sincerity to what I say,

Ðịa Tạng vô lượng oai thần đó,

Earth Store Bodhisattva is endless and inconceivable.

Trăm ngàn muôn kiếp thuật chẳng rồi,

Hundreds of thousands of ten thousands of kalpas is time too brief,

Rộng tuyên Ðại Sĩ đầy sức nọ!

To describe fully the powers of this Great Being!

 

Như người nghe đến danh Ðịa Tạng,

If humans can but hear the name “Earth Store,”

Thấy hình chiêm lễ hết lòng thành,

Or if they see his image, and gaze in worship,

Hương hoa, ăn uống, dâng y phục,

Or offer incense, flowers, food, drink, and clothing,

Trăm ngàn báo đẹp hưởng điều lành,

They will delight in a hundred thousand wonderous joys.

Nếu hay đem công hồi pháp giới,

If one can dedicate such merit to the Dharma Realm,

Rốt ráo thành Phật, sanh tử khỏi,

One will finally become a Buddha, transcending birth and death,

Quán AÂm nên biết gắng tuyên bày,

Therefore, contemplate of the World’s Sounds, you should know about this,

Truyền khắp hằng sa nhiều cõi nước!

Inform all lands everywhere, as many as Ganges Sands!

 

 

CHƯƠNG MƯỜI BA—CHAPTER THIRTEEN

PHẨM DẶN DÒ CỨU ÐỘ NHƠN THIÊN—THE ENTRUSTMENT OF HUMANS AND GODS

 

Lúc đó đức Thế Tôn giơ cánh tay sắc vàng xoa đảnh ngài Ðịa Tạng đại Bồ Tát mà bảo rằng: Ðịa Tạng! Ðịa Tạng! Thần lực của ông không thể nghĩ bàn, đức từ bi của ông không thể nghĩ bàn, trí huệ của ông không thể nghĩ bàn, biện tài của ông không thể nghĩ bàn. Dầu cho các đức Phật ở mười phương khen ngợi tuyên nói những sự chẳng thể nghĩ bàn của ông trăm ngàn muôn kiếp cũng chẳng hết đặng—At that time the World Honored One raised his gold colored arm, and again rubbed the crown of the head of Earth Store Bodhisattva Mahasattva, and said: “Earth Store, Earth Store, your spiritual powers, compassion, wisdom and eloquence are inconceivable. Even if all the Buddhas of the ten directions were to proclaim their praise of your inconceivable deeds, they could not finish in thousands of ten of thousands of aeons.

 

Nầy Ðịa Tạng! Ðịa Tạng! Ông nên nhớ hôm nay Ta ở trong cung trời Ðao Lợi, nơi pháp hội lớn có trăm ngàn muôn ức bất khả thuyết, bất khả thuyết tất cả các chư Phật, các vị Bồ Tát, các hàng trời, rồng, tám bộ chúng đây, một lần nữa đem các hàng chúng sanh, những kẻ ở trong nhà lửa ra khỏi ba cõi, mà giao phó cho ông. Ông chớ để các chúng sanh đó phải bị đọa vào ác đạo, dầu là chỉ một ngày một đêm, huống chi lại để cho họ phải bị đọa lạc vào địa ngục Vô Gián cùng địa ngục A Tỳ, mãi đến ngàn muôn ức kiếp không lúc nào ra khỏi ư—Earth Store! Earth Store! Remember that today, in the Trayastrimsha Heaven in this great assembly of the hundreds of thousands of ten thousands of millions of indescribable, indescribable numbers of all the Buddhas, Bodhisattvas, gods, dragons, and other members of the eightfold division, I again entrust to you the humans, gods, and all other beings who are still in the burning abode and have not yet left the Triple World. Do not allow those beings to fall into the evil paths even for a single day and night, much less fall into the Uninterrupted Hell of the Five Offenses and the Avichi Hell, where they would  have to pass through thousands of tens of thousands of millions of aeons without being able to leave. 

 

Nầy Ðịa Tạng! Tâm tánh của chúng sanh cõi Diêm Phù Ðề không định, phần đông quen theo thói ác, thoảng hoặc có người phát tâm lành, nhưng rồi không bao lâu liền thối thất, còn như duyên ác lại luôn luôn tăng trưởng. Cũng vì lẽ đó, nên Ta phải chia thân nầy ra trăm ngàn ức để hóa độ, thuận theo căn tánh của họ hầu cho họ được giải thoát—Earth Store! The beings of Jambudvipa are of irresolute will and nature, and they habitually do many evil. Even if they resolve their thoughts on good, in an instant they turn back on that resolve. And if they encounter evil conditions, in every thought they tend to become increasingly involved in them. For this reason I duplicate hundreds of thousands of millions of bodies to transform living beings, to take them across and liberate them, all in accord with their own fundamental natures.  

 

Nầy Ðịa Tạng! Hôm nay Ta ân cần đem chúng trời, người giao phó cho ông. Trong đời sau như có hàng trời người cùng thiện nam thiện nữ nào trồng chút ít căn lành ở trong Phật pháp, chừng bằng sợi lông, mảy trần, hạt cát, giọt nước, thời ông nên dùng đạo lực của ông ủng hộ người đó, làm cho người đó tu tập  lần lần đạo hạnh vô thượng, chớ để họ thối thất—Earth Store! I now earnestly entrust the multitudes of humans and gods to you. If, in the future, gods or human beings, whether good men or good women, plant a few good roots in the Buddhadharma, be they as little as a strand of hair, a mote of dust, a grain of sand, or a drop of water, use your virtue in the Way and spiritual powers to protect them so that they gradually cultivate the unsurpassed Way and do not retreat from it.

Lại vầy nữa, nầy Ðịa Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, hoặc có trời hay người nào phải theo nghiệp mà thọ báo bị đọa vào ác đạo, đến khi bị đọa vào chốn ác đạo, vừa bước đến cửa ngục, những chúng sanh đó nếu có thể niệm đặng danh hiệu của đức Phật, hay danh hiệu của một vị Bồ Tát, cùng một câu kệ kinh điển Ðại Thừa. Ông nên dùng thần lực của ông tìm phương chước cứu vớt các chúng sanh đó, ông nên hiện thân ra trước kẻ đó, phá tan địa ngục làm cho họ được sanh lên cõi trời hưởng sự vui vi diệu thù thắng.”—Moreover, Earth Store! If in the future, humans or gods who ought to fall into the evil paths as karmic retribution are on the verge of falling into those paths, or are ready at the very gates to those paths, are able to recite the name of one Buddha or Bodhisattva, or a single sentence or verse of a Great Vehicle Sutra, you should use your spiritual powers to rescue them with expedient means. Display to them a limitless body, smash the hells, and cause them to be born in the heavens and to experience supremely wonderful bliss.

Bấy giờ đức Thế Tôn liền nói kệ rằng—At that time the World Honored One spoke in verse, saying:

“Ðời nay đời sau chúng thiên nhơn,

Humans and gods and other  beings of the present and future,

Nay Ta ân cần dặn bảo ông;

I now earnestly entrust to you;

Dùng đại thần thông quyền độ họ.

With great spiritual penetrations, skill-in-means (skillful means), take them across.    

Ðừng cho ác đạo đọa vào trong.

Do not allow them to fall into the evil paths.”

Bấy giờ ngài Ðịa Tạng Bồ Tát quỳ gối chắp tay bạch Phật rằng: “Bạch Ðức Thế Tôn! Cúi xin đức Thế Tôn chớ lo. Trong đời sau , nếu có người thiện nam cùng kẻ thiện nữ nào, đối với trong Phật pháp  có một niệm cung kính, con cũng dùng trăm ngàn phương tiện độ thoát người đó, làm cho mau đặng giải thoát trong đường sanh tử, huống nữa là nghe các việc lành rồi luôn luôn tu hành, tự nhiên ở nơi đạo vô thượng không bao giờ còn thối chuyển—At that time Earth Store Bodhisattva Mahasattva, knelt on one knee, placed his palms together, and said to the Buddha: “World Honored One! Please do not be concerned. If good men and good women in the future have a single thought of respect toward the Buddhadharma, I shall use hundreds of thousands of expedient devices to take them across so that they may quickly attain liberation from birth and death. How much more will those who have heard of goodundertakings and whose every thought is of cultivating, never retreat from the unsurpassed Way.

 

Lúc ngài Ðịa Tạng Bồ Tát bạch lời nói trên đó vừa xong, trong pháp hội có một vị  Bồ Tát tên là Hư Không Tạng bạch cùng đức Phật rằng: “Bạch Ðức Thế Tôn! Từ khi con đến cung trời Ðao Lợi nầy được nghe đức Như Lai ngợi khen oai thần thế lực của ngài Ðịa Tạng Bồ Tát. Trong đời sau, hoặc có người thiện nam cùng thiện nữ  nào, cho đến tất cả hàng trời, rồng, vân vân nghe kinh điển nầy và nghe danh tự của Ðịa Tạng Bồ Tát cùng với chiêm lễ hình tượng Ðịa Tạng Bồ Tát, thời những kẻ ấy được bao nhiêu điều phước lợi? Cúi mong đức Thế Tôn  vì tất cả hàng chúng sanh ở hiện tại và vị lai mà nói lược việc ấy cho.”—When this was said, a Bodhisattva in the assembly named Empty Space Treasure spoke to the Buddha: “World Honored One! I personally have come to the Trayastrimsha Heaven and have heard the Thus Come One praise the inconceivable power of Earth Store Bodhisattva’s awesome spiritual strength. If in the future good men or good women, as well as gods and dragons, hear this sutra and the name of Earth Store Bodhisattva, or if they gaze at and worship his image, how many kinds of blessings and benefits will they obtain? Please, World Honored One, say a few words about this for the sake of the living beings of the present and in the future.”

Ðức Phật bảo ngài Hư Không Tạng Bồ Tát: “Lắng nghe! Lắng nghe cho kỹ! Ta sẽ vì ông mà nói rõ việc ấy cho. Trong đời sau, người thiện nam cùng thiện nữ nào thấy hình tượng của ngài Ðịa Tạng Bồ Tát  và nghe kinh nầy, cho đến đọc tụng, dùng hương hoa, đồ ăn món uống, y phục, vật báu mà bố thí cúng dường ngợi khen chiêm lễ thời kẻ ấy được hai mươi tám điều lợi ích như sau đây—The Buddha told Empty Space Treasure Bodhisattva: “Listen attentively! Listen attentively! I shall enumerate them and describe them to you. If there are good men or women in the future who see Earth Store Bodhisattva’s image, or who hear this sutra or read or recite it; who use incense, flowers, food and drink, clothing, or gems as offerings; or if they praise , gaze upon, and worship him, they will benefit in twenty-eight ways:

1)       Các hàng trời rồng thường hộ niệm—Gods and dragons will be mindful of them and protect them.

2)       Quả lành càng ngày càng thêm lớn—The fruits of their goodness will increase daily.

3)       Chứa nhóm nhân vô thượng của các bậc Thánh—They will accumulate superior causes of Sagehood.

4)       Mãi không còn thối thất đạo Bồ Ðề—They will not retreat from Bodhi.

5)       Ðồ mặc món ăn dồi dào đầy đủ—Their food and drink will be abundant.

6)       Những bệnh tật không đến được nơi thân—Epidemics will not touch them.

7)       Khỏi những tai nạn về lửa và nước—They will not encounter disasters of fire and water.

8)       Không bị hại bởi nạn trộm cướp—They will not have any difficulties with thieves or armed robbers.

9)       Người khác thấy đến liền sanh lòng cung kính—They will be respected by all who see them.

10)    Các hàng quỷ thần theo hộ trì—They will be aided by ghosts and spirits.

11)    Ðời sau thân nữ sẽ chuyển thành thân nam—Women will be reborn as men.

12)    Ðời sau sẽ làm con gái hàng Vương Giả, Ðại Thần—If born as women, they will be daughters of kings and ministers.

13)    Thân tướng xinh đẹp—They will have handsome features.

14)    Phần nhiều được sanh về cõi trời—They will often be born in the heavens.

15)    Hoặc làm bậc vua chúa—They may be emperors or kings.

16)    Có trí sáng biết rõ việc trong những đời trước—They will know their past lives.

17)    Có mong cầu chi cũng đều được toại ý—They will attain whatever they seek.

18)    Quyến thuộc an vui—Their families will be happy.

19)    Các tai vạ bất ngờ đều dứt sạch—All disasters will be eradicated.

20)    Các nghiệp về ác đạo đều trừ hẳn—They will eternally be apart from bad karmic paths.

21)    Ði đến đâu cũng đều không bị sự trở ngại—They will always arrive at their destination.

22)    Ðêm nằm chiêm bao an ổn vui vẻ—At night their dreams will be peaceful and happy.

23)    Những người thân tộc đã chết có tội thời được khỏi khổ—Their deceased ancestors will leave suffering behind.

24)    Nếu về đời trước có phước thời được thọ sanh về cõi vui sướng—And they will receive the blessings from their past lives to aid their rebirth.

25)    Các bậc Thánh ngợi khen—They will be praised by the sages.

26)    Căn tánh lanh lợi thông minh—They will be intelligent and they will have sharp faculties.

27)    Giàu lòng từ mẫn—They will have magnanimous, kind and sympathetic (compassionate) hearts.

28)    Rốt ráo thành Phật—They will ultimately realize Buddhahood.

 

Lại vầy nữa, nầy Hư Không Tạng Bồ Tát! Như có hàng trời, rồng, quỷ thần ở hiện tại và vị lai nghe danh hiệu của ngài Ðịa Tạng Bồ Tát, đảnh lễ hình tượng của ngài Ðịa Tạng Bồ Tát, hoặc nghe các sự về bổn nguyện tu hành của ngài Ðịa Tạng Bồ Tát mà ngợi khen chiêm lễ, thời sẽ đặng bảy điều lợi ích sau đây—Moreover, Empty Space Treasure Bodhisattva! If gods, dragons, or spirits of the present or future hear Earth Store’s name, bow to his image, or merely hear of his past vows, deeds, and practices, and then praise him and gaze at and worship him, they will benefit in seven ways: 

1)       Mau chứng bậc Thánh—They will quickly reach the Sages’ ground.

2)       Nghiệp ác tiêu diệt—Their evil karma will be eradicated.

3)       Chư Phật đến ủng hộ—All the Buddhas will protect and be near them.

4)       Không thối thất Bồ Ðề—They will not retreat from Bodhi.

5)       Bổn lực được tăng trưởng—Their inherent powers will increase.

6)       Việc đời trước đều rõ biết—They will know their past lives.

7)       Rốt ráo thành Phật—They will ultimately realize Buddhahood.

Bấy giờ bất khả thuyết bất khả thuyết tất cả các đức Phật và đại Bồ Tát, cùng tám bộ chúng trời, rồng, vân vân ở mười phương đến dự pháp hội đó, nghe đức Thích Ca Mâu Ni Phật ngợi khen tuyên bày sức oai thần lớn chẳng thể nghĩ bàn của ngài Ðịa Tạng Bồ Tát, đều khen là việc chưa từng có—At that time, all those who had come from the ten directions, the indescribable, indescribable, numbers of Buddhas, Thus Come One, as well as the great Bodhisattvas, gods, dragons, and the remainder of the eightfold division who heard Sakyamuni Buddha’s praise of Earth Store Bodhisattva’s great, awesome, and inconceivably spiritual  powers, exclaimed that there had never been anything like this before.

Lúc đó trời Ðao Lợi rưới vô lượng hương hoa, thiên y, chuỗi ngọc để cúng dường đức Thích Ca Mâu Ni Phật và Ðịa Tạng Bồ Tát xong rồi, tất cả đại chúng trong pháp hội đều lại chiêm lễ chắp tay mà lui ra—At that time, incense, flowers, heavenly garments and pearl necklaces rained down in the Trayastrimsha Heaven as offerings to Sakyamuni Buddha and Earth Store Bodhisattva. When this was finished, together the entire assembly again gazed upward, worshiped, placed their palms together, and withdrew. 

Kinh Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện—Hết Quyển Hạ—This ends the third roll of the Sutra of The Past Vows of Earth Store Bodhisattva.

Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Tăng (3 lần)—Namo Eternally Dwelling Sangha of the ten directions (3 times). Nam Mô Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần)—Namo Earth Store Bodhisattva Mahasattva (3 times).

Lạy đấng Tam Giới Tôn

Bowing to the World Honored Ones of the three realms,

Quy mạng mười phương Phật,

Taking refuge in the Buddhas of the ten directions,

Nay con phát nguyện rộng

Resolving broadly,

Thọ trì kinh Ðịa Tạng.

Those who practice and cultivate this “Earth Store” sutra (that the merit and virtue from this work).

Trên đền bốn ơn nặng,

Repaying four kinds of kindness above,

Dưới cứu khổ tam đồ,

Aiding those suffering in the paths below,

Nếu có kẻ thấy nghe

May those who see and hear of this,

Ðều phát Bồ Ðề tâm,

All bring forth the resolve for Bodhi,

Hết một báo thân nầy

When this retribution body is over,

Sanh qua cõi Cực Lạc.

Be reborn together in ultimate bliss.

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần)—Namo Sakyamuni Buddha (3 times).

 

 

---o0o---

Phụ Lục  | A | B | C | D | E | F | G | H | I | J | K | L | M | N

---o0o---

Mục Lục | Việt Anh | Anh -Việt | Phạn/Pali-Việt | Phụ Lục

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 1-4-2006

© Copyright 2013 Tu Viện Tường Vân. All Rights Reserved.
Địa chỉ : E4/6 – Nguyễn Hữu Trí – TT. Tân Túc – H.Bình Chánh – TP. HCM
Điện thoại : (08)66758929 - (08)62689409